Winternitz, Sylvain Levi, Huber
LỊCH SỬ VĂN HỌC PHẬT GIÁO
TIẾNG SANSKRIT
LITERARY HISTORY
OF
SANSKRIT
BUDDHISM
J. K. NARIMAN
Thích Nhuận Châu
dịch
06-2008
DẪN NHẬP
Đạo Phật sinh khởi ở Ấn Độ mà cũng hoàn
toàn biến mất ở Ấn Độ; nhưng nhiệt tâm của các tăng sĩ Phật giáo Nguyên
thuỷ đã hoằng truyền niềm tin đạo Phật vượt qua cả ranh giới bản quốc.
Không thiếu những xác thực về lịch sử đạo Phật nhưng cho đến bây giờ,
vẫn chưa thấy có một lịch sử văn học Phật giáo bằng tiếng Sanskrit có hệ
thống xuất hiện. Đạo Phật có một nền văn học đồ sộ. Các tác phẩm văn học
đạo Phật rơi vào hai dòng. Tuy vậy, ngôn ngữ kinh điển đạo Phật không
phải chỉ có một. Từ rất sớm, giáo đoàn đã phân chia thành vài bộ phái,
và mỗi phái đều có kinh điển với ngôn ngữ riêng của mình. Có vấn đề đáng
thảo luận là ngôn ngữ gốc của đạo Phật là thức ngôn ngữ nào mà chính Đức
Phật đã dùng? Bất luận ngôn ngữ gốc nào tồn tại đến bây giờ, chắc chắn
phải là Pāli, lại không khẳng định được sự khác biệt ấy. Nói đúng ra,
chỉ có hai dạng ngôn ngữ trong kinh điển đạo Phật, đó là Pāli và
Sanskrit. Pāli là ngôn ngữ của tăng sĩ Phật giáo Tích lan (Ceylon), Thái
lan (Siam) và Miến điện (Burma), tầng lớp nầy cử hành nghi lễ thường
ngày và những hình thái rất lâu đời của đạo Phật. Ngôn ngữ kinh điển
Phật giáo Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản là Sanskrit, và dù vốn có rất
ít kinh sách đạo Phật được viết bằng tiếng Sanskrit được phát hiện ở đó,
nhưng không thể nào bác bỏ được rằng lúc ấy, đã có một nền văn hoá đồ
sộ, một số lượng lớn kinh điển tiếng Sanskrit đã được dịch sang tiếng
Tây Tạng và Trung Hoa, và sau đó, các nhà nghiên cứu đã xúc tiến việc
phục hồi một phần tạng kinh tiếng Sanskrit được tin là bị hư mất qua sự
hồi tưởng lại. Lịch sử đạo Phật có lẽ đã có đủ lượng ánh sáng soi chiếu
vào mình khi chúng ta có thể sử dụng được bằng ngôn ngữ Châu Âu về tinh
tuý các tác phẩm Phật học từ tiếng tiếng Hán và Tây Tạng. Nhưng kinh
điển đạo Phật bằng tiếng Pāli đã có tầm xứng đáng là những tác phẩm cô
đọng súc tích, và đã được nghiên cứu với ít nhiều sôi nổi ở Châu Âu.
Kinh điển đạo Phật tiếng Sanskrit có điều bất lợi là được xem xét với sự
hoài nghi. Nó được xem là một sản phẩm ra đời sau nầy. Có vài nhà nghiên
cứu hiện nay hoài nghi khi nhìn về các kinh văn trong đó nền văn học
Phật giáo Sanskrit thể hiện và được xác định niên đại từ xa xưa có đáng
tin như một số kinh văn tiếng Pāli chăng?
CHƯƠNG I
Hai trưỜng phái PhẬt giáo
Tuy nền văn hiến đạo Phật tiếng Pāli cực
kỳ phong phú và đồ sộ, từ Ấn Độ, Tích lan (Ceylon), Thái lan (Siam) và
Miến điện (Burma), nhưng đó vẫn chỉ mới biểu trưng cho văn hiến đạo
Phật thuộc một trường phái. Bên cạnh đó, ngay chính trong Ấn Độ và bên
ngoài từ các quốc gia khác, nơi đạo Phật là tôn giáo ưu thế, có vài
trường phái đã phát triển, các tác phẩm văn học, ngôn ngữ của các trường
phái đó một phần là tiếng Sanskrit và một phần là các phương ngữ
(dialect) mà chúng ta có thể gọi là Trung Ấn (mid-Indian), vốn được
Senart gán cho tên gọi là ‘Sanskrit hỗn chủng.’
Trong nền văn hiến Sanskrit nầy, chúng ta còn lại vài tác phẩm đồ sộ gồm
nhiều tập và một số rời rạc, trong khi đa số chúng ta được biết đến
thông qua các bản dịch tiếng Tây Tạng và Hán. Phần chính của văn hiến
nầy, đơn thuần [tiếng Tây Tạng và Hán] và có cả tiếng Sanskrit, vì tính
khúc chiết mà ta gọi là văn học Phật giáo tiếng Sanskrit, hoặc là thuộc
về trường phái được gọi là Đại thừa (Mahāyāna) hoặc là trường phái ít
nhiều ảnh hưởng sau nầy. Do vậy, để đánh giá đúng mức về nền văn học
nầy, điểm cần thiết đầu tiên là có vài quan sát về sự phân kỳ của đạo
Phật vốn từ trước đó phân thành hai trường phái, Đại thừa (Mahāyāna) và
Tiểu thừa (Hīnayāna).
Phần lớn các trường phái Phật giáo
nguyên thuỷ, giáo lý của họ tương đồng với giáo lý của Thượng toạ bộ
(Theravāda), được duy trì trong kinh tạng Pāli, xem giải thoát
(salvation) hoặc niết-bàn là an lạc tối thượng (supreme bliss) và ý niệm
về A-la-hán, vốn đối với cuộc đời nầy là thềm bậc (foretaste) của
thực chứng niết-bàn, cứu cánh và mục tiêu của mọi nỗ lực, –mục tiêu chỉ
có thể đạt được bởi rất ít người với sự trợ lực của trí năng vốn chỉ đạt
được qua đời sống khổ hạnh. Mục tiêu căn bản nầy của Phật giáo nguyên
thuỷ không bị những người kế tục trong truyền thống Đại thừa sau nầy bác
bỏ. Mặt khác, nó còn được công nhận là giáo lý phát xuất từ chính Đức
Phật. Nó được mô tả là Tiểu thừa (Hīnayāna) hay cỗ xe nhỏ
(inferior vehicle) vì không đáp ứng trọn vẹn để dẫn dắt chúng sinh
chuyển hoá mọi khổ đau. Giáo lý được truyền dạy sau nầy gọi là Đại thừa
(Mahayana) hay là cỗ xe lớn (great vehicle), được dự tính để
chuyên chở số đông nhiều người, toàn thể cộng đồng nhân loại, vượt qua
và thoát khỏi khổ đau kiếp người. Giáo lý mới mẻ nầy, được khoáng trương
bởi các môn đệ, căn cứ trên sự hiểu biết thâm sâu về kinh điển cổ xưa
hoặc dựa trên sự khai thị vi diệu của chính Đức Phật sau nầy, và giáo lý
ấy thay thế lý tưởng A-la-hán bằng lý tưởng Bồ-tát. Không chỉ tăng sĩ mà
mọi chúng sinh phàm phu đều có thể hiến mình cho mục tiêu là được tái
sinh làm một vị Bồ-tát, có nghĩa là một chúng sinh đã giác ngộ, hay là
người đã đạt được giác ngộ tối thượng (supreme illumination) và đem ra
cứu độ cho toàn thể chúng sinh. Nếu mục tiêu nầy khiến cho nhiều người
dễ chứng đạt thì ắt hẳn nó phải là phương tiện hữu hiệu hơn để cho nó
được vận dụng bởi mọi tầng lớp hơn là được thấy trong giáo lý Tiểu thừa.
Do vậy, theo giáo lý Đại thừa, dù cho người cha trong gia đình bận rộn
với cuộc sống thế gian, thương gia, thợ thủ công, nhà cầm quyền, – không
những thế, dù tầng lớp thợ thuyền và người cùng khổ–đều có thể đạt được
giải thoát từ một phương diện, bằng sự tu tập lòng từ bi và lòng tốt đối
với mọi sinh loại, bằng tâm bao dung phi thường và tự xả ly
(self-abnegation); và phương diện kia, bằng phương tiện niềm tin vào sự
quy phục (surrender to) và tôn kính (veneration) chư Phật và Bồ-tát.
Trong kinh tạng Pāli, Đức Phật đôi khi được diễn tả như là bậc siêu
nhân, nhưng ngài trở thành như vậy chỉ vì ngài đã chứng ngộ giải thoát
tối thượng, khiến ngài làm được những điều vi diệu và cuối cùng ngài
nhập niết-bàn. Điều còn lại cho chúng ta là đối tượng sùng kính sau khi
ngài nhập diệt chính là giáo lý của ngài, hay ở mức độ khác là xá-lợi
(relics)
của ngài
Xuất thế bộ,
là một trường phái đặc biệt của Tiểu thừa, đi xa hơn và có khuynh hướng
nhìn Đức Phật như một con người bình thường. Vì Đức Phật là người xuất
thế gian (Lokottara; superhuman being) chỉ thị hiện trong một thời gian
hạn định để cứu độ cho toàn nhân loại.
Tinh tuý cỦa ĐẠi thỪa
Trong giáo lý Đại thừa, mặt khác, ban
đầu chư Phật chẳng gì khác hơn là một đấng siêu phàm, và sự thị hiện của
ngài trên thế gian và nhập niết-bàn chẳng gì khác hơn là tấn tuồng kỳ dị
hoặc vô ý nghĩa. Và nếu trong giáo lý Tiểu thừa, có sự để ý đến một số
Đức Phật đã ra đời trước Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trong các kiếp trước,
giáo lý Đại thừa kể đến số chư Phật đó bằng số hằng ngàn, nếu không nói
là hằng triệu. Lại nữa, có hằng triệu không thể tính đếm được số Bồ-tát
được tôn thờ như là bậc thánh trong giáo lý Đại thừa. Những vị Bồ-tát
nầy là những người đã thực hành trọn vẹn Lục độ (Pāramitā; perfections)
và với sự giác ngộ, vì tâm thương tưởng thế gian nên các ngài không
tuyên bố nhập niết-bàn. Lại nữa, có các vị nam thần và nữ thần của đạo
Hindu, đặc biệt là cùng hệ với thần Thấp-bà,
được tôn trí ngang tầm với chư Phật và Bồ-tát,
những người đã góp phần vào sự lớn mạnh của các vị thần
trong đạo Phật. Huyền thoại mới hình thành nầy, quan niệm mới mẻ về
Bồ-tát nầy và càng nhiều nơi thờ Phật nổi bật đầy sinh khí và sùng bái
đạo Phật (Buddha-bhakti) cùng với sự hình thành hệ phái phổ thông Đại
thừa. Tiến trình nầy từ lâu đã vốn có trong Tiểu thừa rồi, nó tự phát
triển dưới ảnh hưởng của Ấn Độ giáo; và tương tự như khía cạnh triết học
Đại thừa, chính là sự phát triển xa hơn từ giáo lý Tiểu thừa dưới sự ảnh
hưởng của Ấn Độ giáo.
Đạo Phật nguyên thuỷ phủ nhận bản ngã
(Ego) và nhìn con đường thể nhập niết-bàn bằng tuệ giác vô ngã
(non-Ego), là không có Ngã. Các trường phái Đại thừa còn đi xa hơn, chủ
trương rằng không chỉ là không có Ngã, mà còn chẳng có hết thảy chẳng có
gì hết–chỉ là không, nhất thiết không (sarvaṃ śūnyaṃ). Họ công
khai thừa nhận một phủ định luận (negativism) triệt để hay gọi là
Không luận (śūnyavāda), phủ nhận cùng lúc cả hữu (Being) lẫn vô
(non-Being) hoặc tin vào Duy tâm phủ định luận (idealistic negativism)
hay còn gọi là Duy thức tông (Vijñānavāda), trường phái ít nhất công
nhận Hữu thể (Being) bao hàm trong thức (consciousness). Như Max
Wallaser đã nhận định, phủ định luận là đặc điểm của triết học Đại thừa
hơn là hư vô luận (nihilism).
Văn học Phật giáo tiếng Sanskrit, tuy
vậy, không có nghĩa là chỉ riêng biệt trong những người theo Đại thừa.
Trước sự lan toả rộng rãi cuả các trường phái thuộc Nhất thiết hữu bộ
(Sarvāstivāda), vốn thuộc Tiểu thừa và biểu thị danh xưng thuộc trường
phái thực chứng (positivists), họ sở hữu một tạng kinh luận của riêng
trường phái mình và một nền văn học phong phú bằng tiếng Sanskrit. Thực
vậy, học thuyết của Nhất thiết hữu bộ có nghĩa là học thuyết chủ trương
Tất cả đều hiện hữu (All-Exists).
CHƯƠNG II
Kinh TẠng Sanskrit
Về kinh tạng Sanskrit nầy, hoàn toàn
không tìm thấy bản sao nào. Chúng tôi chỉ biết được từ các bản rời rạc
hoặc lớn hơn hoặc nhỏ hơn từ các bản Udana-varga, Pháp cú
(Dharmapada), Tăng nhất A-hàm (Ekottarāgama) và Trung A-hàm
(Madhya-āgama) đã được phát hiện từ các bản khắc gỗ và các thủ bản phục
hồi từ miền đông Turkistan do các ông Stein, Grunwedel và Le Coq, cũng
như từ những trích dẫn trong những kinh văn Phật giáo bằng tiếng
Sanskrit khác như Đại sử (Mahavastu),
Divyavādāna và Phổ diệu kinh (Lalitavistara)
và sau cùng là từ các bản dịch tiếng Hán và Tây Tạng.
Văn học thuộc những phát hiện ở vùng
Trung Á vốn phần lớn là tái tạo. Những tham khảo khá quan trọng là:
Pischel, Fragments of a Sanskrit Canon of the Buddhist from
Idykutsari in Chinese Turkistan, SBA 1904, p. 807. New Fragments,
ibid p. 1138; và bản The Turfan Recensions of the Dhammapada, SBA
1908, p. 968. Tuy vậy, Pischel xem duyệt bản Pháp cú trên thực sự
là bản chưa hoàn chỉnh từ bản Udanavarga của Dharmatrata, là phiên bản
Tây Tạng từ bản được nêu ra do Rokhill dịch sang Anh ngữ năm 1883, và có
nguồn gốc Sanskrit của bản mà Luders đang biên tập từ bản Thổ-phồn
(Turfan) phát hiện được. Valleé de Poussin đã phát hiện các bản chưa
hoàn chỉnh của cùng một tác phẩm trong bộ sưu tập của ông mang về từ
Trung Á bởi Stein. Và trong đó tìm thấy bản Udana tương đương với
bản Udana tiếng Pāli (JA, 1912, p. 10, vol. xix, p. 311). Levi,
JA, 1910, p. 10 vol. xvi, p. 444. Mặt khác, bản thảo cổ xưa Kharoshti do
Dutreuil de Rhins phát hiện được ở Khotan, có tầm quan trọng tương đương
như quan niệm Cổ ngữ học (paleography) và lịch sử văn học, tiêu biểu cho
một bộ sưu tập được mô phỏng theo Kinh Pháp cú
bằng tiếng Prakrit.
Những bộ kinh Phật tiếng Sanskrit khắc
trên đá đã được V. A. Smith và W. Hoey phát hiện trong tàn tích của
Gopalpur cùng với văn bia (inscriptions) ước định vào khoảng từ năm
250–400 stl. (JASB proceedings, 1896, p. 99). Về bản dịch tiếng Hán và
Tây Tạng, xin xem Oldenberg ZDMG 52, pp. 654, 662; Anesaki Le Muscon,
new series xx, vi 1905, pp. 23-37. Về bản dịch tiếng Hán kinh
Niết-bàn (Nirvanasutra), xin xem JRAS 1881, p. 66.
Về Luật tạng (Vinayapiṭaka) cũng thuộc
cùng dạng đó, còn có những bản rời của nghi lễ và nghi thức truyền giới
cho chư Tăng bằng tiếng Sanskrit do Bendall tìm thấy ở Nepal cũng như là
Giới bản Ba-la-đề-mộc-xoa (Prātimokṣasutra) được rút ra từ một
bản dịch tiếng Tây Tạng và bốn bản dịch tiếng Hán, bộ mà Kern, p. 373,
và OC xiii, Hamburg, 1902, p. 58. S. Levi phát hiện những bản rời Luật
tạng (Vinayapiṭaka) của Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda) ở Tokharian (JA
1912, p. 10, vol. xix, p. 101, Oldenberg ZDMG 52, p. 645.)
Những bản văn chính trong tạng kinh của
Căn bản Thuyết Nhất thiết hữu bộ (Mūla-sarvāstivāda)–đây là tên gọi của
tạng kinh tiếng Sanskrit theo truyền thống–được ngài Nghĩa Tịnh
(I-tsing),
nhà chiêm bái Trung Hoa dịch từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán từ năm
700-712.
(J. Takakusu, a record of Budqlhist
religion by I-tsing, translated, Oxford 1896, p. XXXVII. See Anesaki
JRAS 1901, p. 895; Ed. Huber in BEFEO VI 1906, p: 1, Sylvain Levi in the
Toung Pao, V. 1904, p. 297; VIII, 110).
Một nhánh phụ của Căn bản Thuyết Nhất
thiết hữu bộ (Mūla-sarvāstivāda) là Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda),
phái có riêng bộ Luật của mình cũng như ba phân nhánh khác của cùng bộ
phái nầy, đó là Đàm-vô-đức (Dharmagupta), Hoá địa bộ (Mahiśāsaka; p:
Mahiṃsāsaka; Di-sa-tắc
彌沙塞)
và Ca-diếp-di bộ (Kāśyapiya) (Levi, ibid p. 114, 1907). Nhưng tạng Kinh
tiếng Hán Trung Hoa không có nội dung giống như tạng Pāli, mà còn có
những bản kinh ngoại giáo và thậm chí có những luận giải triết học của
đạo Bà-la-môn (Takakusu, JEAS 1896, p. 415.)
Tương tự như vậy, tạng Cam-châu-nhĩ
(Kanjur)
của Tây Tạng cũng được gọi là Tam tạng (Tripiṭaka), có nhiều bản kinh
trong đó không đối chiếu được với tạng Pāli và nghi ngờ bản ấy là không
thuộc vào kinh điển nguyên thuỷ. Vì những kinh nầy cũng có các bản dịch
tiếng Hán và Tây Tạng, nên có những phân nhánh thành Kinh (Sutra) Luật
(Vinaya) và Luận (Abhidharma).
Tạng kinh tiếng Sanskrit từ bản dịch
tiếng Hán nầy tiết lộ về văn bản và sự sắp xếp cấu trúc của nó có nhiều
sự trùng hợp ngẫu nhiên với tạng Pāli, và mặt khác, có nhiều sai lệch
với tạng Pāli. Điều nầy được giải thích với giả định rằng tạng Pāli ban
đầu được dịch một vài phần ở Ấn Độ từ một nguồn thông dụng, có lẽ từ
tạng Magadhi đã thất lạc, và về sau, ở các tỉnh khác, dịch từ tạng tiếng
Sanskrit, ở các chi phái xuất phát từ chính nó.
Theo Sylvain Levi (Toung Pao 1907, p.
116) Luật tạng tiếng Sanskrit đầu tiên được hệ thống hoá là thế kỷ thứ 3
hoặc thứ 4 stl. Trong tạng tiếng Sanskrit, kinh A-hàm (Āgama) tương
đương với kinh Nikāya trong tạng Pāli, Trường A-hàm (dīrghāgama)
tương ứng với Trường bộ kinh (dīgha-nikāya), Trung A-hàm
tương ứng với Trung bộ kinh,
kinh Tăng nhất A-hàm tương ứng với Tăng chi bộ kinh
và Tạp A-hàm (saṃyuktāgama) tương đương Tương ưng bộ kinh.
Còn có Ksudraka
tương đương với Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nikāya).
Các bản kinh trong hệ Nikāya sau nầy có
bao gồm đầy đủ trong tạng Pāli hay không chúng ta chưa được rõ, nhưng
chúng ta biết được rằng trong tạng kinh tiếng Sanskrit cũng tương đương
với tạng Pāli của phần Kinh Tập (Suttanipata) với Sutranipata, Tự thuyết
(udana)
tương đương với Udāna,
Pháp cú (法
句;
Dhammapada) tương đương với Dharmapada;
Trưởng lão tăng kệ (長
老
僧
偈;
thera-gāthā) tương đương
Sthaviragāthā; Thiên cung sự (天
宮
事;
vimāṇa-vatthu) tương đương với Vimanavastu; Phật chủng tính (佛
種 性; buddha-vaṃsa) tương đương
với Buddha Vamsha. Có mối nghi
ngờ bộ Bảy bộ luận
được dịch trong Hán tạng là cũng phát xuất từ tạng nguyên thuỷ như những
bộ Luận Abhidharma nầy không có cùng đặc điểm với tạng Abhidharma bằng
tiếng Pāli, ngoại trừ số 7 và một vài nhan đề.
Như vậy, nếu kinh luận của Căn bản
Thuyết Nhất thiết hữu bộ chỉ được lưu giữ một cách chưa hoàn chỉnh, thì
tương tự như vậy, tạng kinh tiếng Sanskrit là không bảo thủ, mỗi bộ đều
có chỉ một hay nhiều bản kinh tuỳ thuộc tính thiêng liêng đặc biệt của
nó như là một dạng Kinh thánh (Bible) và dung nhiếp các bản kinh cổ xưa
trong Tam tạng đã được công nhận trên nguyên tắc như thế và loại đi các
bản khác.
CHƯƠNG III
ĐẠi sỰ (Mahavastu)
Thuộc về cựu phái Tiểu thừa, trước hết
chúng ta dành để đề cập đến Đại sự (Mahavastu).
Le Mahavastu,
bản tiếng Sanskrit, lần đầu tiên được xuất bản với lời giới thiệu của E.
Senart với biểu đồ chi tiết nội dung trong phần Dẫn nhập, Paris
1882-1897. Một bài của trong tạp chí A. Barth trong RHR., 11, 1885, p.
160; 42, 1900, p. 51 và trong tập san Journal des Savants 1899,
p. 459, p. 517, p. 623. Tác phẩm the Composition of the Mahavastu
của E. Windisch, Leipzig 1909. Một tổng quan về nội dung Đại sự
cũng được Rajendralal Mitra đưa ra trong Nepalese Buddhist Literature,
pp. 113-161
Tác phẩm tự đưa ra nhan đề là ‘Luật tạng
theo văn bản của Thuyết xuất thế bộ (Lokottaravāda) thuộc Ma-ha tăng-kỳ
(Mahāsangikas).’ Ma-ha tăng-kỳ (Mahāsangikas) nầy, có nghĩa là, hậu duệ
của Đại chúng bộ (Mahasangha; Great Order) theo như các ghi chép đương
thời là nhóm có khuynh hướng ly khai nhất trong giáo đoàn nguyên thuỷ.
Đây chính là điều xác thực duy nhất mà
chúng ta có thể biết chắc về sự sinh khởi của các bộ phái Phật giáo từ
sự mâu thuẫn và rắc rối. (Đối chiếu tác phẩm Manual of Buddhism,
p. 105 của Kern).
Một chi phái trong đó là Thuyết xuất thế
bộ (Lokottaravadis), có nghĩa là, những phái nầy có giáo lý chủ trương
Đức Phật là siêu xuất thế gian (Lokottara; e: Supra-Mundane) và chỉ có
mối liên hệ bên ngoài với hiện hữu phàm trần này.
“Không có điều gì trong Đấng Giác ngộ
viên mãn có thể sánh với mọi thứ trên thế gian, nhưng mọi hiện tượng đều
có liên hệ với bậc Đạo sư vĩ đại (Rishis) là điều thù thắng trên cả thế
gian.” Họ rửa sạch chân mặc dù bụi chẳng hề lấm chân họ, họ ngồi dưới
bóng râm mặc dù mặt trời chẳng áp bức họ, họ để dành thực phẩm mặc dù họ
chẳng bao giờ bị phiền toái bởi cái đói, họ dùng dược phẩm mặc dù họ
không hề bệnh hoạn. (Windisch loc. cit. p. 470). Theo trong Đại sự,
Thuyết xuất thế bộ (Lokottaravadis) thuộc về Madhyadesha hay 16 quốc gia
nằm giữa dãy Hy-mã-lạp-sơn và dãy núi Vindhya (Mahavastu V. 1, p.
198.)
Hoàn toàn thích ứng với giáo lý nầy,
phần tiểu sử Đức Phật hình thành nội dung chính của Đại sự (Mahavastu)
được thuật lại như một ‘Avadana’
hay một lịch sử thần diệu. Do vậy, rõ ràng nó không khác biệt nhiều với
kinh văn tạng Pāli vốn dành để trình bày về cuộc đời Đức Phật. Ở đây
trong kinh văn Sanskrit nầy cũng như trong bản đối chiếu Pāli, chúng ta
nghe những sự huyền nhiệm cùng với các ý niệm hạ sinh, giác ngộ và giảng
pháp lần đầu do Đức Phật. Đại sự khế hợp với Nidanakatha
của văn hệ Pāli, trong đó đã phân chia cuộc đời Đức Phật thành ba giai
đoạn, phần thứ nhất bắt đầu bằng cuộc đời của Bồ-tát vào thời của Đức
Phật Nhiên Đăng
(Dīpaṅkara (V. 1, 193) và thuật lại cuộc đời của ngài trong thời của các
Đức Phật khác trong quá khứ. Phần hai (V. 2,1) cho chúng ta biết cõi
trời Đâu-suất, nơi Bồ-tát đã thọ sinh ở đó quyết định tìm một nơi khác
để đầu thai là ở Hoàng hậu Ma-da (Maya) và thuật lại sự mầu nhiệm trong
ý niệm và đản sanh của hoàng tử, về việc xuất gia của ngài, cuộc chiến
đấu của ngài với Ma vương (Mara), và sự giác ngộ của ngài đạt được dưới
gốc cây bồ-đề. Phần ba (V. 3) kể lại những chi tiết sau cùng, tương ứng
với những khía cạnh chính trong Mahāvagga của Luật tạng (Vinayapiṭaka),
lịch sử của việc chuyển pháp luân lần đầu tiên và sự ra đời của Tăng
đoàn. Và đây cũng là lý do tại sao Đại sự được mô tả là thuộc về
Luật tạng (Vinayapiṭaka), mặc dù trừ ra một vài điểm về khởi nguyên của
Tăng đoàn, sau đó chẳng có gì bao hàm về riêng giới luật hay là điều
luật riêng của giới xuất gia.
Đại sự (Mahavastu) không có những diễn tả có tính chuyên môn
Pāli, Durenidana, Avidurenidana and Santikenidana. Xem Windisch loc. cit
. p. 473, 476 fi.
Tuy nhiên, khi chúng ta nói rằng Đại sự
thuật lại chi tiết đề cương chính về cuộc đời Đức Phật theo Thuyết Xuất
thế bộ (Lokottara-vāda), đó không có nghĩa hàm ý rằng điều nầy chiếm
toàn bộ nội dung tác phẩm; cũng chẳng phải đưa ra một ý tưởng thích đáng
về cấu trúc của nó.
Khác với một tác phẩm văn học nghệ
thuật, Đại sự đúng hơn là một mê cung, trong đó chúng ta chỉ có thể bằng
nỗ lực khám phá sợi chỉ xuyên suốt chuyện kể cuộc đời Đức Phật. Mô tả
nầy thường xuyên bị ngắt quãng bởi những sự kiện khác, đặc biệt là vô số
chuyện Bản sanh
và Avadāna
và
còn xen bởi những giáo điều trong kinh. Chúng ta thấy không có trật tự.
Đôi khi có nỗ lực để ghép chúng lại với nhau trong một kiểu thức không
chặt chẽ các bộ phận của tác phẩm lại với nhau. Hơn nữa, cùng một câu
chuyện thường xuyên được lập lại dù nó là một tình tiết trong cuộc đời
Đức Phật hay là truyện Bản sanh, được lập lại hai lần kế tiếp nhau, lần
đầu bằng văn xuôi (trường hàng) lần sau bằng văn vần ( thi kệ),
dù ít nhiều có sự khác biệt nhau. Nhưng trong vài đoạn văn, cùng một
tình tiết tái diễn với chi tiết vặt vãnh khác nhau. Thế nên truyện ký về
đản sanh của Đức Phật được kể lại không ít hơn bốn lượt (Windisch,
Buddha's Birth, p: 106, 124 ff.). Lại nữa, ngôn ngữ cũng không đồng
bộ. Không nghi ngờ gì toàn bộ tác phẩm, cả văn xuôi lẫn thi kệ, được
viết bằng ngôn ngữ mà chúng ta gọi là Sanskrit hỗn chủng (mixed
Sanskrit), nhưng dạng phương ngữ (dialect) lại nầy tạo nên những sự tiếp
cận đa dạng với tiếng Sanskrit. Càng khác biệt với tiếng Sanskrit, ngôn
ngữ ấy càng cổ xưa hơn. (Oldenberg ZDMG 52, 663).
TẦm quan trỌng cỦa ĐẠi sỰ
Mặc dù vậy và bất kể trường hợp nào, qua
tác phẩm nầy, chúng ta hầu như học được vài điều mới về cuộc đời Đức
Phật hay về Thuyết xuất thế bộ, nó có tầm quan trọng nhất là vì nó giữ
gìn cho chúng ta nhiều truyền thống nguyên thuỷ và các kinh văn nguyên
thuỷ cũng xuất hiện trong tạng Pāli. Thế nên việc viễn ly đời sống gia
đình của Thái tử Siddhartha, việc xuất gia (abhinishkramana)
nổi bật được thuật lại trong tác phẩm tiếng Sanskrit, cũng như trong
Trung bộ kinh (Majjhimanikāya) bằng tiếng Pāli (26 và 36) trong hình
thức cổ điển nhất. Như một ví dụ về những tầng bậc khác nhau của tác
phẩm, chúng ta có thể lưu ý đến phiên bản khác của cùng tình tiết về
cuộc đời Đức Phật và thuộc về một thời kỳ sau đó vốn tiếp theo ngay sau
phần đầu tiên và cổ xưa hơn chuyện được kể lại trong Đại sự.
Tương tự, chúng ta tìm thấy cựu bản của ‘thời thuyết pháp ở Benares’ nổi
tiếng và những miêu tả về những bản kinh nổi bật trong tạng Pāli:
Mahagovinda Sutta (trong Trường bộ kinh–Dighanikāya 19),
Digkanakha sutta (trong Trung bộ kinh–Majjhima nikāya, 74),
Sahassavagga của Pháp cú (Dhammapada), Kinh Khud-dakapatha, Kinh
Pabajja, Kinh Padhana và KinhKhaggavisana Suttas thuộc Kinh Tập
(Suttanipata), và các bản kinh rời từ Vimana Vatthu (Thiên cung
sự) và Buddha Vamsa (Phật chủng tính) (Oldenberg ZDMG 52, 659 f.
665 f. Wmdisch Mara and Buddha, 316 f, 322 f). Lại nữa, còn có những thi
kệ, về đản sinh của Đức Phật và dấu tích của những tán khúc Phật giáo cổ
xưa mà chúng ta cũng thường gặp.
TruyỆn bẢn sinh cỦa ĐẠi
sỰ
Tuy nhiên, giá trị hoàn toàn đặc biệt
là, Đại sự là một kho tàng của các truyện Bản sanh (Jataka) và
các truyện khác. Những chuyện nầy đã được khai thác từng phần bởi Serge
d'Oldenberg (JRAS 1896, p. 335 f.) và Barth (Journal des Savants
1889, p. 625 f.). Charpentier đã thảo luận về một vài truyện Bản sanh
(Jataka) trong Đại sự trong cuốn lịch sử về Bích chi Phật
(Pacceka Buddhas; p. 2f. 12 f, 25 f.) của ông. Hơn một nữa cuốn sách
gồm có truyện Bản sanh (Jataka) được thuật lại phần lớn bằng văn xuôi và
thi kệ được thêm vào, hoặc ban đầu bằng văn xuôi, kế đến là thi kệ. Lại
nữa, bây giờ chúng ta thấy Bồ-tát như là một đấng tối cao trùm khắp, khi
là con trai của một thương gia, rồi là một người Bà-la-môn, rồi lại là
hoàng tử của Long vương, là sư tử, là voi, v.v... Nhiều truyện Bản sanh
(Jataka) là phiên bản của cùng một câu chuyện mà chúng ta thấy trong
truyện Bản sanh (Jataka) thuộc tạng Pāli. Các chuyện ấy khế hợp từng chữ
với chuyện trong tạng Pāli và nhiều khi thời gian có phần khác nhau. Như
vậy, chẳng hạn, chuyện Shyamaka jataka (V. 2, p. 209 L), chuyện thống
thiết của con trai người Bà-la-môn bị bắn chết bởi mũi tên của vua
Peliyaksha chỉ là phiên bản của chuyện Shyamaka jātaka quá quen thuộc
đối với chúng ta. Chuyện Kinnarijataka (V. 2, p., 94 f.) tương ứng về
nét đặc sắc, dù không phải về nội dung với truyện ký về loài Khẩn-na-la
(Kinnara) trong truyện Bản sanh (Jataka). Truyện Kushajataka xuất
hiện một lần (V. 2, p. 420 f.) trong bản duyệt lại là hoàn toàn khác với
bản Pāli, lần thứ hai (V. 1, p. 3 f.) trong thể thi kệ, là không tương
đồng với kệ (gāthā) của trong Pāli. Câu chuyện về Amara, con gái
của người thợ rèn, (V. 2, p. 83G) là khớp với Jātaka số 387,
Markatajataka (V. 2, p. 246 f.) trong tạng Pāli, là truyện ngụ ngôn
của con khỉ và con cá sấu mà chúng ta biết qua chuyện số 208 trong
Jātaka của Pāli. Câu chuyện Nalini bị Eka Shringa quyến rũ phát triển
cao độ thành truyền thuyết trong Mahavastu (Y. 3, p. 143 f.). Nhưng nó
vẫn còn giữ lại vài đặc điểm cổ tích vốn đã xuất hiện trong Jātaka văn
xuôi của Pāli về chuyện Isisinga (Luders, .NGGW 1901, p. 20 f.)
Mahavastu và Puranas.
Tuy vậy, có nhiều truyện Bản sanh
(Jataka) và Thí dụ (Avadāna) trong Đại sự vốn không tương đồng
với nhau trong tạng Pāli. Trong số nầy là những tán dương đặc biệt liên
tục về xu hướng xả thân và bao dung rộng lượng của hàng Bồ-tát. Chẳng
hạn, như vua Arka, Bồ-tát dâng cúng cho Đức Phật hiện đời 80,000 đền
thờ bằng bảy loại đá quý (1, 54). Trong một dịp khác, vua đã hy sinh vợ
và con mình chỉ để được họ một câu châm ngôn thông thái (1, 91 f.). Là
một người ăn xin, người còn tin đạo hơn cả vua Kriki, vì ngài không bao
giờ giết hại sinh vật và đặt nồi đựng đầy thức ăn nơi những ngã tư đường
cho những người đói; và khi ngài nghe tin cha mẹ, trong lúc mình vắng
mặt, đã dâng tặng cho Đức Phật những cọng rơm mà trước đó dùng để lợp
cho căn lều của mình, ngài đã vui mừng suốt một tháng trời (1, 317 f.).
Nhiều chuyện kể chứa dựng dấu ấn đặc
tính của người Bà-la-môn và Puranic. Chẳng hạn, đó là chuyện của
Brahmadatta không có con và cấu khẩn một vị Rishi, vị nầy ban cho anh ba
con chim khi sinh ra biết nói tiếng người và nói những lời lẽ rất khôn
ngoan. Câu chuyện nầy gợi cho chúng ta khởi nguyên của Markandeya
Purana. Và ngẫu nhiên, câu chuyện được xem như là miêu tả cảnh địa ngục
trong thời kỳ đầu của Đại sự đã có những điểm gặp gỡ với chuyện
về Purana. Tuy nhiên, đó là, chúng ta thấy trong truyền thống kinh tạng
Pāli về cuộc viếng thăm tầng ngục thứ 8 của ngài Mục-kiền-liên
(Maudgalyāyana) cũng như là sự lưu trú của ngài trong các cõi giới súc
sinh, địa ngục, ngạ quỷ và trong vô số cõi giới các vị thần. Vì trong
truyền thống Pāli, còn có Moggalana là một vị thánh đã đi qua các cõi
trời và địa ngục và khắp các cõi giới. Tuy nhiên, trong Vương sự
(Rajavamsha; History of the Kings) có triều đại vào thời của Đức Phật
Thích-ca Mâu-ni, hoàn toàn bắt đầu từ dạng thức của Purana với mô tả về
sự sáng tạo (1, 338 ff.). Tinh thần của Purana còn mang hơi thở của Bản
sanh Jataka (1, 283 ff.), trong đó một vị Rishi có tên Rakshita là một
Bồ-tát, ngài đã chứng đắc nhiều thần thông kỳ diệu như một đạo sĩ đến
mức ông ta có thể dùng tay chạm đến mặt trời và mặt trăng. Tinh thần của
Purana rất giống với những chuyện trong truyền thống Đại thừa và nhiều
chuyện trong Đại sự khác hẳn với sự mê say tính chất huyễn tượng
(phantasmagorial)– khiến cho các thầy sững sốt bởi sự thể hiện những
điều thần diệu của các bậc thánh, điều ấy rất đặc biệt trong kinh Đại
thừa. Thuộc về loại nầy là “Chuyện cái dù; Chattravastu I, 253 ff.) Sau
khi Đức Phật đã thoát khỏi tai hoạ bệnh dịch ở thành Śravasti do loài
Dạ-xoa (Yakṣa) gây ra, chư thiên và thiện thần dùng lọng che chung quanh
Đức Phật với lòng cung kính. Tuy vậy, sau đó, với lòng từ bi thường có,
liền hiện ra dưới mỗi cây dù là mỗi Đức Phật do thần thông của ngài,
khiến cho chư thiên và thiện thần tin rằng chính Đức Phật đang ngồi dưới
cây dù của họ.
Nhiều mối quan hệ với Đại thừa
Và, mặc dù Đại sự thuộc Tiểu thừa
đã tiếp cận với nhiều điều có thể hoặc thực sự đã xảy ra trong tạng
Pāli của các nhà thuộc Thượng toạ bộ (Theravadis), nó thể hiện một mối
quan hệ tốt để tạo nên sự tiếp cận với Đại thừa. Chẳng hạn, chúng ta
thấy trong quyển đầu (1, 63-193), một chương khá dài nói đến Thập địa (bhumi),
nơi mà một vị Bồ-tát phải trải qua và sự mô tả các công hạnh mà các ngài
phải đạt được trong mười giai vị nầy. Trong chương đó, đã có sự tự ý
thêm vào chuyện Buddhanusmriti (1, 163 ff.), đó là một bài tán ca dành
cho Đức Phật, nhân vật ở đây chẳng khác gì với thần Viṣṇu hoặc Śiva
trong các stotra của Purana. Điều ấy cũng trung thành với ý tưởng
Đại thừa khi cho rằng năng lực của Đức Phật là vô cùng to lớn đến mức
chỉ riêng lòng tôn kính Thế tôn (Exalted One) cũng đủ cho sự chứng nhập
niết-bàn (II, 362 ff.), và người ta tạo vô lượng công đức cho chính mình
khi họ chỉ cần đi nhiễu quanh một ngôi tháp và cúng dường hương hoa,
v.v... Từ nụ cười của Đức Phật đã phát ra những hào quang rực sáng chiếu
khắp các cõi nước Phật (Buddha kśetra) được diễn ra rất nhiều lần trong
kinh văn Đại thừa (III, 137 ff). Đó cũng là quan niệm của các nhà Đại
thừa khi đề cập đến vô số Phật và khi họ xác định rằng các vị Bồ-tát
sinh ra không từ nơi cha mẹ, mà sinh ra trực tiếp từ nguyện lực của
chính mình (Windisch, the Buddha's Birth, p. 97 Note, p. 100 f.
and p. 193 f.).
Di tích của Đại sự
Đặc chất việc cấu thành Đại sự
dẫn đến cái khó là thời kỳ nó được hình thành là không dễ xác định.
Nhiều trường hợp đưa đến một dấu tích rất cổ xưa, Chẳng hạn, thực tế là
nó thuộc về trường phái Thuyết xuất thế bộ (Lokottaravāda) và ngôn ngữ
của bộ phái nầy. Tác phẩm hoàn toàn được viết bằng loại ‘Sanskrit hỗn
chủng’, trong khi kinh văn Đại thừa thì phương ngữ nầy lại được thay
bằng tiếng Sanskrit, là một dấu hiệu về tính cổ xưa hơn của nó. Chẳng
hạn, Barth nói rằng tiếng Sanskrit trong kinh điển đạo Phật chỉ là sự
xâm nhập khiên cưỡng (interloper).
Chắc chắn vô số những bản rời của Đại sự là xưa cũ đã thông dụng
trong tạng Pāli và có nguồn gốc cổ xưa của tạng Pāli. Kệ (gāthā)
trong Kinh Khadgaviṣna Sutra (I. 357,) có thể xưa cổ hơn bản
tương ứng là Kinh Khaggavisana Sutta trong Kinh Tập (Suttanipata)
thuộc tạng Pāli. Tuy nhiên, khi trong Đại sử, những dòng kệ nầy được
tụng bởi 500 vị Bích chi Phật sắp tịch diệt, nên trên môi họ vẫn còn
vang vọng điệp khúc: ‘Ngài đi một mình cô đơn như con kỳ lân’ âm thanh
vang lên không phù hợp một cách khác thường và nó trở nên không chắc
thực rằng phần văn xuôi có thể là cổ xưa như phần kệ tụng (gatha).
Đến thế kỷ thứ I stl. tương tự như vậy, quan điểm đặc trưng của các nhà
Đại thừa đã biểu thị cho thấy, cũng như qua vài bản văn, dường như đã có
ảnh hưởng bởi nền kiến trúc nghệ thuật Càn-đà-la (Gandhara). Chẳng hạn,
khi trong hình ảnh loài hoa vi diệu (miracle flower), hoa sen trong
hình dáng vòng hoa đã rơi xuống chung quanh hào quang Đức Phật, có thể
lưu ý rằng hào quang lần đầu tiên được giới thiệu cho người Ấn Độ bởi
các nghệ sĩ Hy lạp.
Bên cạnh đó, hình ảnh nhiều Đức Phật dưới các lọng báu gợi cho chúng ta
về các tượng điêu khắc. Sự liên quan của Đại sự với Du-già hành
phái (Yogācāra) đưa chúng ta trở lại với thế kỷ thứ IV (I, 120); và cũng
như vậy với ám chỉ đến Huns và điều quan tâm nhất đối với ngôn
ngữ tiếng Hán và chữ viết cùng những đặc điểm của nhà chiêm tinh
Horapathaka" (III, 178). Những cốt tuỷ của Đại sự là xưa cổ và có
lẽ đã được tập thành hai thế kỷ trước Tây lịch, và thậm chí lẽ sau đó
nữa. Vì sự thêm thắt chỉ được vay mượn từ Đại thừa, trong khi mặt khác,
đó chỉ là điểm pha trộn mơ hồ của riêng giáo lý Đại thừa mà không phải
là huyền thoại Đại thừa mà chúng ta đã thấy trong Đại sự.
CHƯƠNG IV
Kinh PhỔ DiỆu (Lalitavistara)
Đại sự
tự mô tả như là một tác phẩm thuộc Tiểu thừa, dù nó đã đồng hoá một số
khía cạnh Đại thừa. Kinh Phổ Diệu thì ngược lại, được xem như là
một trong những kinh Đại thừa thiêng liêng nhất, như là một bộ Kinh
Phương Đẳng.
Đó là một bộ kinh có nội dung đồ sộ, thường được chỉ cho kinh điển Đại
thừa. Thế nên, khởi đầu tác phẩm thường thể hiện mô tả về cuộc đời Đức
Phật, vì Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivadi) gắn liền với Tiểu thừa.
Kinh Phổ Diệu do S. Lefmann biên tập, là người đầu tiên đưa ra bản dịch
chương đầu kinh này tại Berlin năm 1875. Học giả vĩ đại người Bengali là
Bajendralal Mitra đã chuẩn bị một bản dịch tiếng Anh cho bộ sưu tập
Bibliotheca Indica gồm ba quyển đã được ra đời. (Calcutta, 1881 đến
1886. Ông ta cũng đã đưa ra một bản chưa hoàn chỉnh. Một bản dịch bằng
tiếng Pháp của Foucaux xuất hiện ở Paris trong Annals du Musee Guimet,
vol, vi, xix, (Paris, 1887-1892.). Truyền thống Trung Hoa như trong
Kinh Phổ Diệu, cuộc đời Đức Phật đại biểu cho Nhất thiết hữu bộ.
Tác phẩm Romantic Legend của Beal là một bản dịch rút ngắn từ bản
tiếng Hán kinh Abhinish-Kramana Sutra vốn không có trong bản gốc
tiếng Sanskri, nhưng nó được dịch sang tiếng Hán rất sớm từ năm 587 stl.
Đó dường như là lịch sử Đức Phật đại biểu cho Pháp mật bộ/Đàm-vô-đức
(Dharmaguptas).
Vậy nên ý niệm Đại thừa đã tương ứng với
nhan đề của kinh nầy, có nghĩa là ‘chuyện kể về sự kỳ diệu vô cùng của
Đức Phật.’ Như vậy cuộc đời của Đức Phật trên trần gian được mô tả như
là điều vi diệu của một con người siêu xuất thế gian.
Trong chương mở đầu, Đức Phật xuất hiện
như là một thiên thần tối thắng, dù được mở đầu bằng hình thức cổ điển
như trong kinh tạng Pāli với dòng chữ ‘Như vậy tôi nghe, một thời Phật
tại thành Xá-vệ, trong tinh xá Kỳ hoàn, vườn ông Cấp Cô Độc. ’
Hình tượng quá độ
Nhưng lúc đó, trong tạng Pāli, Đức Phật
được giới thiệu với lối mở đầu rập khuôn tương tự với cách diễn đạt và
có một số đệ tử chung quanh, hay ít nhất có đầy đủ đại chúng ‘500
tỷ-khưu,’ và tức thì pháp hội giảng kinh chính thức bắt đầu. Trong
Kinh Phổ Diệu, cũng như trong Kinh Phương đẳng là một quang
cảnh long trọng, bao phủ bởi hào quang thiêng liêng. Ngài được bao quanh
bởi đại chúng gồm 12.000 vị tỷ-khưu và không dưới 32.000 Bồ-tát, ‘tất cả
đều là nhất sanh sở hệ Bồ-tát, tất cả đều xuất sinh với sự viên mãn của
một Bồ-tát, tất cả đều có được trí huệ của một Bồ-tát, tất cả đều có
được các thứ thần thông vi diệu...’ Trong khi trở dậy từ định, trên đỉnh
đầu ngài phóng ra luồng hào quang xuyên suốt các cõi trời và chấn động
cả chư thiên. Lát sau, lập tức phát ra khúc hát tán thán Đức Phật tối
thắng và ngay sau đó, Iśvara (Thiên chủ) xuất hiện cùng chư thiên đến
trước Đức Phật, quỳ dưới chân Phật và cầu thỉnh ngài giảng nói Kinh
Phương Quảng thù thắng có tên là Phổ Diệu để cứu độ và hạnh phúc cho thế
gian. Trong khi họ tán thán bằng những lời lẽ tối tôn, điểm nổi bật của
kinh thể hiện ở chỗ này, và ngay cả các chư Phật thời quá khứ, Đức Phật
hiện đời cũng biểu hiện sự tán thán của các ngài bằng sự im lặng. Chính
sau những giới thiệu chi tiết nầy, trọn một chương mở đầu tiểu sử của
chính Đức Phật vốn tạo nên nội dung tác phẩm. Và bản kinh được bắt đầu
ngay từ phần Nidanakatha của tạng Pāli, nơi chương thứ 2 (avidurenidana)
bắt đầu.
Ý niệm Đản sinh của Đức Phật
Bồ-tát an trụ trên cung trời Đâu-suất
trong một cung điện nguy nga tráng lệ. Bồ-tát được dâng tặng hơn cả trăm
danh hiệu cao quý, và thiên cung để ngài cư ngụ có đến hơn cả tá. Dưới
âm thanh của dàn nhạc trời gồm 8 vạn bốn ngàn chiếc trống cầu thỉnh ngài
thị hiện ở thế gian để khởi đầu ý nguyện cứu độ chúng sinh. ‘Sau thời
gian dài tìm hiểu trong số đông những gia đình ưu tú, nghèo hèn, vương
tộc đều được xem xét cẩn thận, và sau cùng Bồ-tát quyết định thọ sanh
vào gia đình Vua Tịnh Phạn, trong bào thai Hoàng hậu Maya. Hoàng hậu
riêng mình có đủ phẩm tính thân mẫu của một Đức Phật. Sắc đẹp hoàn hảo
của bà được mô tả đến từng chi tiết, đó là đức hạnh và trinh khiết. Bên
cạnh đó, trong tất cả các phụ nữ Ấn Độ, bà là người duy nhất trong được
chọn để nhập thai Đức Phật tương lai vì trong bà có sự hoà hợp sức mạnh
của cả vạn con voi. Ý niệm nầy được phát triển với sự hộ trì của chư
thiên sau khi Bồ-tát đã quyết định nhập vào thai mẹ bằng hình tướng của
một con voi. Chư thiên chuẩn bị không những một trụ xứ như thiên đường
cho Hoàng hậu Maya trong thời gian bà cư ngụ lúc mang thai, mà còn kiến
trúc một cung điện bằng ngọc quý ngay trong bụng của bà để Bồ-tát có thể
không bị vấy bẩn trong suốt 10 tháng trụ thai. Trong bảo điện, Bồ-tát
ngồi một cách nhu nhuyến dịu dàng. Nhưng thân ngài phát ra ánh sáng huy
hoàng rực rỡ, và chính luồng ánh sáng đó lan rộng ra hằng dặm từ bào
thai của mẹ ngài. Một cơn đau đến với Hoàng hậu Maya và được điều phục
ngay sau khi bà đưa tay lên đầu. Và bất kỳ khi nào bà nhìn phía bên
phải của mình, bà đều thấy Bồ-tát trong bào thai mình như là một người
trông thấy khuôn mặt chính mình trong gương. Thế rồi Bồ-tát trong thai
mẹ làm cho chư thiên vui thích bằng những bài giảng pháp và Phạm thiên
đều tuân theo mọi gợi ý của ngài.
Phần nầy có trong 2 đến chương 6. Phần đầu của chương 6 đã được Windisch
dịch trong tác phẩm nhan đề Buddha's Geburi, p. 162 ff.
Ý niệm về việc sinh hạ của Bồ-tát cũng
như vậy. Nó được diễn ra cùng với những điều thần diệu và những điềm
lành. Trong vườn Lâm-tì-ni, Bồ-tát hạ sanh theo cách như chúng ta đã
biết qua vô số mẫu dạng kiến trúc, dù không giống như một con người bình
thường mà một Đấng Tối Thắng (Exalted Being), một Mahapurusha, "The
Great Spirit,". Hoa sen đỡ dưới mỗi bước chân của hoàng tử sơ sanh báo
cho mọi người biết sự cao quý của ngài khi bước đi bảy bước về phía sáu
hướng chính
Đấng tạo vật chủ Prajapati được mô tả là Purusha và MahaPurusha trong
đạo Bà-la-môn và Áo nghĩa thư (Upaniṣad), và sau đó là Phạm thiên
(Brahma) và Viṣṇu. Bảy bước của Đức Phật sơ sinh còn được giải thích
trong huyền thoại về cuộc hành quân của thần Viṣṇu.
Tội bất tín
Ở đây câu chuyện bị cắt ngang bởi cuộc
đối thoại giữa A-nan và Đức Phật, trong đó sự say đắm được thể hiện qua
những người không tin và sự xác thật huyền nhiệm về đản sanh của Đức
Phật (chương vii, p. 87 – 9). Niềm tin vào Đức Phật, được dạy là một
thành phần cốt yếu của tín ngưỡng. Và gợi cho chúng ta nhớ đến Krishna
trong Chí Tôn Ca (Bhagavad Gita) khi Đức Phật nói rằng:
‘Đối với tất cả những ai tin vào Như Lai, Như Lai đều đem điều tốt lành
đến cho họ. Như những người bạn, họ đến với Như Lai để tìm sự trú ẩn. Và
có nhiều người bạn mà Như Lai đã làm như vậy. Và đối với những người bạn
ấy Như Lai chỉ nói sự thật, không hư vọng... Để tin, A-nan nên gắng hết
sức của ông, đây là điều Như Lai phó thác cho ông.’
Tại sao cuộc đối thoại nầy xuất hiện
ngay đây chắc hẳn là không do ngẫu nhiên, nhưng nó dựa trên thực tế
chính là có liên quan với truyện kể về ý niệm đản sanh của Đức Phật mà
Kinh Phổ Diệu đã tách ra, rất đáng chú ý từ những trường phái Phật giáo
khác trong tính quá độ như đối với tính chất huyền diệu mà không quá lâu
trong chiều hướng tương lai của câu chuyện. Thực vậy, ở đây thường có sự
hài hòa rất cao đối với những mô tả cổ xưa nhất trong tạng Pāli, có
nghĩa là, trong Mahavagga của Luật tạng (Vinayapiṭaka), dù có lẽ
nó được ghi chú một cách tình cờ rằng các kệ tụng trong Kinh Phổ Diệu
xuất hiện lâu đời hơn phần kệ có trong tạng Pāli (Đối chiếu Kinh Phổ
Diệu trong truyền thống Pāli do Oldenberg thực hiện trong OC, V, 1882,
vol. 2, p. 1017 to 122 và Windisch trong tác phẩm Mara and Buddha'
and Buddha's Birth cũng như do Kern trong SBE, vol. 21, p. xi ff.)
Tạng Pāli và Sanskrit
khi trở lùi lại một nguồn gốc xưa cũ
hơn
Hai bản văn ở hai tạng trong mỗi trường
hợp đều không tuỳ thuộc lẫn nhau; nhưng cả hai đều trở lùi lại chung một
truyền thống cổ xưa hơn. Mà thậm chí ở đây Kinh Phổ Diệu có nhiều
điều không có trong bản cổ xưa. Hai tình tiết cá biệt là không đáng để
ý. Một tình tiết trong những chỗ nầy (chương 8) lại kể rất tỉ mỉ khi
Bồ-tát còn nhỏ, ngài được nuôi dưỡng bởi người mẹ kế, kể về các ngôi đền
và các hình tượng chư thiên sùng bái, đặt ngài lên trên bệ để đảnh lễ
ngay dưới chân ngài như thế nào. Chương khác (chapter 10) kể lại lần đầu
tiên Đức Phật đến trường học.
Đức Phật đến trường học
Với một đoàn tuỳ tùng gồm 10 ngàn cậu bé
với những phô bày rất thiện hảo, với sự tham dự của chư thiên–8000 thiên
nữ cùng lúc rải hoa trước ngài–vị Bồ-tát thiếu niên chào mừng lễ được
nhận vào trường học. Thầy hiệu trưởng không chịu đựng nổi niềm vinh
quang của một thiên thần hoá sanh và ông ta liền bất tỉnh ngã lăn xuống
đất. Một thiên thần đỡ ông ta dậy và hồi tỉnh cho ông với sự giải thích
rằng các vị Bồ-tát đều là những bậc Tối thắng và không cần phải học nữa,
nhưng các ngài đến trường chỉ vì tuỳ thuận tiến trình thế gian. Rồi
Bồ-tát làm sửng sốt viên hiệu trưởng với câu hỏi về 64 mẫu tự
mà ông ta sẽ dạy cho ngài. Và ngài kể tất cả lần lượt 64 mẫu tự, trong
đó gồm cả những nét của tiếng Hán và của Huns–những mẫu tự thậm
chí thầy giáo cũng không biết cả tên gọi. Sau cùng, với một vạn cậu bé,
ngài bắt đầu buổi học với những mẫu tự. Cùng với mỗi mẫu tự, ngài đều
nói ra mỗi câu châm ngôn thông tuệ.
Theo Gurupuja Kaumudi (p. 116 f.) của E. Kuhn, hai truyền thuyết
về thời thiếu niên của Đức Phật nầy có lẽ phù hợp với Kinh nguỵ tạo
(Gospels Apocrypha), kể chuyện tương tự về thời thiếu niên của chúa
Jesus. Chương 12 và 13 còn có những tình tiết vốn thiếu sót trong tiểu
sử Đức Phật. (Winternitz, WZKM 1912, p. 237 f.)
Công hạnh của Đức Phật
Về mặt khác, trong tiến trình xa hơn
của chuyện kể trong Kinh Phổ Diệu (chương 14-26), lệch hướng không chỉ
chút ít từ truyền thuyết mà chúng ta biết từ các nguồn khác; sự kiện
chính trong cuộc đời Đức Phật là bốn sự tiếp xúc mà qua đó, Bồ-tát học
được về sinh, lão, bệnh, tử; sự bay thoát ra khỏi hoàng cung, cuộc gặp
gỡ với Vua Tần-bà-sa-la.
Những năm tháng học hỏi của sa-môn Cồ-đàm (Gautama) và việc tu tập khổ
hạnh vô ích; cuộc chiến đấu với ma vương; và sự giác ngộ cuối cùng và
giảng dạy giáo pháp cho toàn thể chúng sinh ở thế gian theo lời thỉnh
cầu của Phạm thiên (Brahma). Nhưng dù ở đây Kinh Phổ Diệu là đáng để ý
vì sự phóng đại, chẳng hạn, trong khi sa-môn Cồ-đàm trải qua bốn tuần
sau khi ngài đã chứng ngộ, trong hầu hết mọi mô tả xưa cổ, là ở dưới cội
cây khác nhau (Mahavagga, 1, 1-4, Dutoit Life of the Buddha,
p. 66), trong Kinh Phổ Diệu, (p. 377), vào tuần thứ hai, ngài đi dạo khá
lâu qua hàng ngàn thế giới và trong tuần thứ tư, ngài chỉ có một cuộc đi
dạo ngắn, chỉ từ bờ biển phía đông sang phía tây. Tuy nhiên, chương cuối
cùng (chương 27) một lần nữa, lại theo mô thức của kinh Đại thừa, sự tự
ca ngợi Kinh Phổ Diệu, và dành trọn cho sự liệt kê các đức hạnh và lợi
lạc mà một người đạt được qua sự truyền bá và tôn trọng kinh nầy.
Những thành tố của Kinh Phổ Diệu
Từ những điều nầy, rất có thể Kinh Phổ
Diệu là một chuẩn bị của một bản kinh cổ xưa hơn thuộc Tiểu thừa, được
mở rộng và thêm thắt với ý nghĩa của Đại thừa–tiểu sử Đức Phật đặc trưng
của Nhất thiết hữu bộ. Giả định nầy cũng giải thích bản chất kinh văn
vốn không thể nào là một bản văn đơn độc của một tác giả, mà là một sưu
tập ẩn danh trong đó mỗi đoạn rất cổ và mới đều được đặt kề cận nhau.
Lại nữa bản kinh còn có, theo thể dạng của nó, các chương không đồng đều
nhau, chuyện kể liên tục bằng văn xuôi tiếng Sanskrit và vô số, thường
là rất dài, những đoạn thi kệ có vần điệu bằng loại Sanskrit hỗn chủng.
Những phần thi kệ nầy rất hiếm tạo nên một phần của chuyện kể. Như một
thông lệ, nó tóm tắt phần chuyên kể trong văn xuôi bằng một dạng vắn tắt
và đơn giản, đôi khi có ít nhiều sai lệch. Phần nhiều những đoạn thi kệ
nầy là các bài tán ca cổ điển diễm lệ vốn có cùng nguồn gốc cổ xưa như
kệ tụng trong Kinh Tập (Suttanipata) thuộc tạng Pāli như đã nói ở
trên. Những ví dụ như truyền thuyết về đản sanh và tình tiết về Đạo sĩ
A-tư-đà (Asita) trong chương VII, lịch sử vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra)
trong chương XVI, cuộc đối thoại với ma vương trong chương XVIII. Chúng
thuộc về thi ca tôn giáo thế kỷ thứ nhất sau thời Đức Phật. Nhưng cũng
có vài đoạn văn kinh, giống như bài giảng ở thành Ba-la-nại (Benares)
trong chương thứ XXVI, có thể gọi là mức độ cổ xưa nhất trong truyền
thống đạo Phật. Mặt khác, những thành phần nội dung mới lại được tìm
thấy không những trong văn xuôi mà còn cả trong phần kệ (gatha), trong
đó nhiều đoạn được biên soạn bằng thể thơ mang tính nghệ thuật rất cao.
Đó là Vasantatilaka và Shardulavikridita vốn thường là khá hay (xem chú
dẫn về vần luật trong ấn bản Lefmann's VII, p. 227 f, và Dẫn nhập, p. 19
ff).
Dịch sang tiếng Hán và Tây Tạng
Chúng ta không biết được bản được biên
soạn sau cùng của Kinh Phổ Diệu ra đời là khi nào. Trước đó, một khẳng
định sai lầm là tác phẩm đã có ở Trung Hoa là được dịch từ kỷ nguyên Tây
lịch đầu tiên. Vì một vấn đề thực tế là chúng ta không biết gì cả về
tiểu sử của Đức Phật có tên là Phuyau-king được ấn hành vào
khoảng năm 300 stl., điều được viện dẫn là ‘bản dịch thứ hai của Kinh
Phổ Diệu,’ thực ra là bản dịch kinh văn mà chúng ta đang sử dụng
(Winternitz, "WZKM 1912, p. 241 f.). Một bản dịch chính xác từ tiếng
Sanskrit là thuộc tạng kinh tiếng Tây Tạng, đến thế kỷ thứ 5 mới được ra
đời. Bản nầy đã được biên tập và do Foucaux dịch sang tiếng Pháp. Điều
chắc chắn có thể xảy ra là có một bản dịch ít nhiều khác với bản Kinh
Phổ Diệu chúng ta đang được biết là nổi tiếng với chừng 850-900 bức
tranh được các nghệ sĩ trang trí ở ngôi chùa trứ danh Boro-Budur ở Java.
Vì những bản kinh tráng lệ nầy trình bày các quang cảnh trong truyền
thuyết về Đức Phật theo phong cách như thể các nghệ sĩ đang sáng tạo với
bản kinh Kinh Phổ Diệu trên tay. Và Pleyte đơn giản tóm tắt lại toàn bộ
nội dung Kinh Phổ Diệu như là một giải thích của các bản điêu khắc (The
Buddha legend in the sculpture in the temple of Boro-Budur,
Amsterdam, 1901. Xem thêm La Museon 1903, p. 124 ff, của Speyer).
Liên hệ với Mỹ thuật Phật giáo
Nhưng các nghệ sĩ đã trang hoàng cho các
tượng đài đạo Phật mang phong cách Hy lạp (Greco-Buddhistic) ở miền Bắc
Ấn với những hoạt cảnh về cuộc đời Đức Phật cũng đã quen thuộc với
truyền thuyết Đức Phật được kể trong Kinh Phổ Diệu. Họ đã sáng tạo các
tượng đó chắc chắn là không theo kinh văn, mà phù hợp với lối truyền
miệng sinh động. Tuy nhiên, sự hài hoà giữa điêu khắc và kinh văn tiếng
Sanskrit không hiếm thấy như một đặc điểm mà chúng ta phải giả định là
truyền thống văn học lúc đó bị ảnh hưởng bởi mỹ thuật. Mỹ thuật và văn
chương thường có ảnh hưởng hỗ tương.
Những thẩm quyền có thể được tham khảo ở đây là L’art
Greco-bouddhique du Gandhara, part I, 324 f. 666 ff; Grunwendel
Buddhist art in India, p. 94, 04; f-t 134; Senart OC XIV, 1905, p21
ff ; và Bloch ZDMG 62, p. 370 ff.
Không có hình tượng trong Phật giáo
nguyên thuỷ
Trong khi mỹ thuật Phật giáo cổ điển vào
thời đại A-dục (Aśoka) tranh chạm nổi của Bharhut, Sanchi, v.v... đã
biết không có hình tượng Đức Phật, mà chỉ có biểu tượng (có nghĩa là
bánh xe pháp luân) cho nhân cách của người sáng lập tôn giáo. Một biểu
tượng cuả nghệ thuật Gandhara. Có thể nào không có mối liên hệ với điều
nầy trong những thế kỷ khi Đức Phật trở thành một đối tượng sùng bái
(bhakti) và việc tôn thờ Đức Phật đã tạo thành điểm trung tâm của tín
ngưỡng? Thế nên có sự chứng thực hiện thời về kỷ nguyên của nghệ thuật
Gandhara, từ thuở bình sinh (floruit) vốn suy tàn vào thế kỷ thứ II
stl., cũng là thời kỳ của kinh điển Đại thừa đề cập đến truyền thuyết
Đức Phật.
‘Trên nền tảng phong cách xuất phát từ trường hợp đầu tiên của nền nghệ
thuật Greco-Roman chỉ có thể là thời kỳ từ thế kỷ đầu cho đến thế kỷ thứ
IV.’ Grunwendel Buddhist Art',in India, p. 31 Theo Foucher trong tác
phẩm L'art Greco-bouddhique du Gandhara, part 1. p. 40 ff., thời
kỳ hưng thịnh của nghệ thuật Gandhara trùng hợp với hậu bán thế
kỷ thứ hai stl.
Đánh giá chung về Kinh Phổ Diệu
Tuy vậy, rất tự nhiên khi có lẽ chúng ta
đã lưu giữ trong Kinh Phổ Diệu cả hai truyền thống rất cổ xưa và những
mô tả rất mới mẻ qua hằng thế kỷ về truyền thuyết Đức Phật. Một nguồn
rất quan trọng về đạo Phật cổ xưa chính là ở đây, nơi có sự trùng hợp
với kinh văn Pāli và các kinh khác bằng tiếng Sanskrit như Đại sự.
Nhưng sẽ sai lầm khi nhìn Kinh Phổ Diệu trên phương diện tổng thể như là
một nguồn gốc cổ xưa và đúng đắn về kiến thức Phật học, như Senart đã có
trong tác phẩm khéo léo mà không thành công của ông nhan đề Essai sur
la legends du Buddha, (p. 31 f., 456 f.). Cũng chẳng phải Kinh Phổ
Diệu đã cho chúng ta một manh mối cho ‘đạo Phật bình dân–popular
Buddhism’ vào thời cổ xưa như Valleé Poussin đã tuyên bố. Đúng hơn đó là
điều then chốt của sự phát triển các truyền thuyềt Đức Phật trong giai
đoạn sớm nhất, trong đó chỉ có những sự kiện chính của cuộc đời vị sáng
lập tôn giáo vĩ đại được tô điểm bằng nhiều điều kỳ diệu, cho đến sau
cùng sự sùng bái thần tượng bậc Đạo sư, trong đó bắt đầu hoàn thành công
hạnh của ngài dường như rất giống công hạnh của vị thần trên tất cả các
vị thần khác. Nhưng từ quan điểm lịch sử văn học, Kinh Phổ Diệu là một
trong những tác phẩm quan trọng nhất trong văn học Phật giáo. Quả thực
như vậy, không những cuộc đời Đức Phật là thiên anh hùng ca, mà còn tiêu
biểu như viên ngọc quý duy nhất. Chính từ những bài tán ca và những tình
tiết đã được bảo trì trong từng chi tiết cổ xưa nhất của Kinh Phổ Diệu,
không nói có lẽ chính từ Kinh Phổ Diệu, mà đại thi hào Phật giáo là ngài
Mã Minh (Aśvaghosa) đã sáng tạo nên thiên sử thi tráng lệ là Phật sở
hành tán (Buddha-caritakāvya), ca ngợi công hạnh Đức Phật.
CHƯƠNG V
MÃ MINH (AŚVAGHOSA)
VÀ TRƯỜNG PHÁI CỦA NGÀI.
Tư liệu căn cứ:
Sylvain Levi, Le Buddhacarita d’Ashvaghosha, JA 1892, p. 8, vol.
XIX, p. 201 S. Khi Levi ( ở trang 202) đánh giá Phật sở hành tán
là một tác phẩm ‘rút gọn tinh yếu từ Kinh Phổ Diệu’ là ông đã sai lầm.
Ít nhất Kinh Phổ Diệu trong bản được biên soạn hiện hành có lẽ không có
kiểu mẫu nào như của ngài Mã Minh cả. Phật sở hành tán (Buddha-caritakāvya),
đã được Cowell (Oxford 1893) biên tập, và được chính ông phiên dịch
trong SBE, vol. XLIX. Về ngài Mã Minh và tầm quan trọng của ngài trong
văn học Ấn Độ, Sylvain Lévi đề cập trong nghiên cứu toàn diện của ông
nhan đề Ashvaghosha le Sutralankra et ses sources JA 1908, p. 10,
vol. XII, p. 77. ff. Ông Anesaki trong ERE vol. II 159 f. Nay chúng ta
biết từ phát hiện của Luders rằng ngài Mã Minh cũng là một nhà soạn kịch
thơ (dramatic poet), ngài là tác giả của Hi khúc Xá-lị tử
(Śāriputraprakaraṇa) SBA, 1911, p. 388 Phật. Tiểu sử của ngài Mã
Minh do ngài Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva) biên soạn đã được dịch sang
tiếng Hán giữa năm 401 và 409. Wassiljew đã đưa ra một trích đọan trong
tác phẩm Buddhism của ông dù tác phẩm trên hoàn toàn là mô tả về
truyền thuyết.
Trở lại năm 1892 khi học giả người Pháp
Sylvain Lévi ấn hành chương đầu của Phật sở hành tán, người dân ở
Châu Âu biết rất ít về ngài Mã Minh qua tên của ngài. Ngày nay, chúng ta
biết đến ngài như một thi hào vĩ đại của nền văn học Sanskrit, vì ngài
là kiểu mẫu của bậc thầy tài ba mẫu mực là Kalidasa
và là tác giả các thiên sử thi, kịch, và thơ trữ tình (lyrical). Tuy
nhiên, không may, chúng ta chỉ biết về cuộc đời của ngài. Các truyền
thống đều thống nhất rằng ngài là người đương thời với vua Ca-nị-sắc-ca
(khoảng năm 100 stl.), và ngài là một trong những thủ lĩnh, nếu không
nói là người sáng lập nền giáo lý Đại thừa Phật giáo.
Về việc không rõ ràng trong niên đại của vua Ca-nị-sắc-ca, xin xem trong
tác phẩm nói trên, vol. I, p. 437; Franke và Fleete có kết luận độc lập
rằng vua Ca-nị-sắc-ca lên ngôi vua năm 5253 ttl. Ngược lại, , R. G.
Bhandarkar (BRAS, XX ff 19, 385 ff) có ý kiến rằng vua Ca-nị-sắc-ca sống
vào thế kỷ thứ III stl. Ông A. D. Boyer trong JA 1900, V. XV. p. 526 11.
Nói rằng có lẽ Ca-nị-sắc-ca sống vào thời kỳ cuối và đầu thế kỷ thứ II
stl. Trong cuộc khảo sát gần nhất của mình về lãnh địa của vua
Ca-nị-sắc-ca, Oldenberg có kinh luận rằng Ca-nị-sắc-ca có thể được xem
là sống gần thế kỷ thứ nhất stl. (NGGW 1911, p. 421-427). Cùng một kết
quả có từ căn cứ khác của Học giả Haraprasada Shastri (Sundaranandam
Kavyam, p. 427). Ông ta cũng nhất trí rằng nhà thơ với Aśvaghoṣa Raja
xuất hiện trong văn bia vào thời vua Ca-nị-sắc-ca (Ep. Ind, VIII, 171
f.) mà với mức độ nào đó, Vogel xem là một nỗ lực không thành công.
Cuộc đời Mã Minh
Hoàn toàn xác thực là ngài Mã Minh xuất
thân từ gia đình Bà-la-môn và có được một nền giáo dục hoàn thiện thuộc
truyền thống Bà-la-môn trước khi đến với đạo Phật. Khi xuất gia trong
đạo Phật, chúng ta ước đoán, ban đầu là với Nhất thiết hữu bộ, nhưng
ngài có ấn tượng lớn lao với lòng sùng kính Đức Phật (Buddha bhakti) và
thế nên chuẩn bị cho xu hướng Đại thừa. Ở nơi sinh ra hay quê hương của
ngài, phần lớn đều đề cập đến thành phố Sāketa hay Ayodhyā, ngày nay là
Oudh.
Nhưng thành Ba-la-nại (Benares) và Hoa Thị (Patna) cũng được đề cập đến
trong mối liên hệ nầy. Mẹ ngài là Suvarnakśi. Cuộc đời ngài Mã Minh
trong môth tác phẩm bằng tiếng Tây Tạng ghi rằng, ‘Không có câu hỏi nào
mà ngài không đáp được, không có sự bất bình nào mà ngài không gỡ ra
được; ngài liệng bỏ các đổi thủ của mình nhanh chóng như gió lốc nhổ bật
mọi gốc cây rừng đổ nát.’
Theo cùng một bản miêu tả, ngài là một
nhạc sĩ tài ba, chính ngài đã soạn nhạc và cùng với đoàn hát rong của
ngài, đàn ông và phụ nữ, đi trình diễn qua các phố chợ. Ở đó, ngài đánh
đàn và hát với dàn hợp xướng những khúc sầu ca về sự vô hiệu của cuộc
đời và đám đông đứng yên và mê hoặc bởi giai điệu thể nhập của ngài.
Theo cách này, ngài đã hàng phục nhiều ngoại đạo. Theo ngài Thế Thân
(Vasubandhu), Mã Minh đã cộng sự cho Kātyāyanīputra
(Ca-chiên-diên-diễn-ni-tử) trong sự trình bày luận giải của ngài về
A-tỳ-đạt-ma.
Nhà chiêm bái Trung Hoa Nghĩa Tịnh
người đã có cuộc hành trình sang Ấn Độ vào năm 671-695, đã có nói về vị
tăng bác học, đã hoàn toàn chinh phục thành công các ngoại đạo, làm lớn
mạnh đạo Phật, từ đó, ngài được mọi người đánh giá là cao hơn cả chư
thiên và loài người. Và ngài bổ sung vào một điều, trong mỗi thế hệ, chỉ
có một cặp đôi dạng người như vậy–những người như Long Thụ, Đề-bà và Mã
Minh của thời xa xưa.
Ngài Huyền Trang gọi ngài Mã Minh, Long
Thụ, Đề-bà và Cưu-ma-la-đa (Kumaralabdha) là bốn mặt trời chiếu sáng thế
gian (SBE. Vol. 49, p. 9). Tương tự, ngài Nghĩa Tịnh kể lại vào thời đó,
ở Ấn Độ ngài đã đọc trước điện Phật, không kể những cái khác, một bản
kinh được biên soạn bởi ngài Mã Minh. Ngài cũng được biết đến là tác giả
của những bài tán ca (sử thi) như Trang nghiêm Kinh
(Sūtra-laṃkāra), Phật sở hành tán (Buddhacarita) (Trong tác phẩm
Record của ngài Nghĩa Tịnh do Takakusu dịch, p. 152, t 16j5,
181).
Tác phẩm vĩ đại của ngài Mã Minh:
Lịch sử cuộc đời Đức Phật
Về tác phẩm Phật sở hành tán,
Nghĩa Tịnh nói rằng đó là một tác phẩm đồ sộ băng thơ, kể lại cuộc đời
và công hạnh của Đức Phật ‘từ lúc ngài còn ở trong hoàng cung cho đến
những giờ phút cuối cùng ở giữa rừng cây sala.’ Nghĩa Tịnh nói thêm ‘tác
phẩm ấy được đọc rộng rãi trong năm miền của Ấn Độ và trong các quốc gia
vùng biển phía Nam (Sumatra, Java và các đảo quốc láng giềng). Ngài gói
trọn nhiều ý trong chỉ vài lời khiến cho tấm lòng người đọc phấn chấn để
họ không bao giờ chán khi nghiên cứu kỹ vầng thơ đó. Lại nữa, đó được
xem như một đức tính tốt khi đọc nó bởi vì nó chưa đựng những giáo lý
cao quý trong một thể loại súc tích ngắn gọn.’ (I-tsing p. 165
X). Từ những gì Nghĩa Tịnh đã nói, qua đó, ngài biết được Phật sở
hành tán qua bản dịch tiếng Hán, trong đó các chương hồi gồm 28 đoạn
và câu chuyện được kết thúc khi Đức Phật nhập niết-bàn.
Chính trong cuốn Fo-sho-hing-t-tsan
được Dharmarakaha dịch từ tiếng Sanskrit sang Hán văn từ năm 414 đến
421, và Beal dịch từ tiếng Hán sang Anh ngữ trong SBE XIX, Rhys Davids
(JRAS'190], p. 405 f.) đã nhấn mạnh một cách có lý rằng bản dịch tiếng
Hán nầy không phải là bản dịch theo cách hiểu của chúng ta. Chính xác
nhất là bản dịch tiếng Tây Tạng vào thế kỷ thứ VII và VIII (Leumann,
WZKM 7, 1893, p. 193 ff).
Nay do bản dịch tiếng Tây Tạng cũng gồm
có 28 đoạn, nên quả thực chúng ta phải giả định rằng trong bản văn tiếng
Sanskrit, nó chỉ gồm 17 đoạn và kết thúc bằng việc giảng pháp ở thành ở
thành Ba-la-nại (Benares) mà chúng ta chỉ có một chi phần; mà trong thực
tế cũng chỉ là một chi phần. Vì ngoài 17 đoạn nầy, chỉ có 13 đoạn đầu là
cổ xưa và chân thật. Phần kết thúc được bổ sung do Amritananda, người
sống bằng nghề chép mướn vào thế kỷ thứ IX, vì chính ông thú nhận không
tìm ra được bản thảo toàn vẹn. Ngay cả bản thảo Phật sở hành tán
do Haraprasada Shastri phát hiện cũng chỉ đến giữa đoạn thứ 14 (JASB
Vol. 5 p. 47 ff.)
Và điều mà nhà chiêm bái Trung Hoa phát
biểu trong bài tán dương về Phật sở hành tán, chúng ta có thể
hoàn toàn chứng minh trên căn cứ của chi phần mà chúng ta có được. Ở đây
thực tế lần đầu chúng ta có một thiên sử thi (epic) được sáng tác bởi
một nhà thơ chân thực–nhà thơ thấm nhuần tình thương và lòng tôn kính
đối với nhân cách tối thắng của Đức Phật, và lòng kính trọng sâu sắc đối
với tính chân xác của giáo lý đạo Phật, biểu tượng bằng cuộc đời và giáo
lý của bậc Đạo sư trong ngôn ngữ rất cao sang với nghệ thuật vốn chẳng
phải là giả tạo. Phật sở hành tán, gọi một cách kỹ thuật là một
Mahakavya hay Trường thiên sử thi–một dạng sử thi tao nhã mang
tính nghệ thuật và được biên soạn theo phong cách tương tự như Kavya, mà
khởi nguyên của nó được tìm thấy trong Kainayana. Valmiki và môn đệ của
ông là hậu duệ trực tiếp của ngài Mã Minh ngay sau khi Mã Minh là người
chọn được kế thừa của Kalidasa. Cả ba dạng Trường thiên sử thi, tuy vậy,
thống nhất ở đây là trong sự vận hành của thể loại Alamkara hay
được trang sức bằng thơ (poetic embellishment) từ đầu đến cuối đều là
dịu dàng. Và dịu dàng ở trong ngôn ngữ và văn phong cũng chính là cách
thức của ngài Mã Minh tôn trọng sự trình bày tính huyền diệu trong
truyền thuyết Đức Phật. Mã Minh tránh những cường điệu như chúng ta đã
thấy trong ví dụ của Kinh Phổ Diệu. Ngược với sự hỗn độn không trật tự
Đại sự và Kinh Phổ Diệu, chúng ta thấy trong Phật sở
hành tán, sự sắp xếp tài liệu mang tính nghệ thuật và kỹ lưỡng hơn.
Và dù nhà thơ lúc ở nhà có những bản kinh cổ xưa hơn, ngài vẫn đứng độc
lập với những chất liệu ấy. Không phải dù sao khi ngài thay đổi truyền
thống, ngài hiểu được làm sao dành mọi nỗ lực cho lớp áo thi ca mới về
truyền thuyết cổ xưa và vay mượn nguồn gốc thể hiện giáo lý kinh điển
đạo Phật nguyên thuỷ. Ngài Mã Minh luôn tác phẩm Phật sở hành tán
của ngài. Như Windisch quán sát, ngài Mã Minh dường như đã hết sức cố
gắng tránh khỏi cái vòng ngữ cú (phraseology) của kinh điển cổ xưa– (Demon
and Buddha, p. 205).
Phật sở hành tán và Kālidāsa
Tính chất thi ca hoàn toàn khác biệt
nhau, như với Kinh Phổ Diệu là hình ảnh hoàng tử trẻ ra khỏi
hoàng cung đi dạo trong đoạn 3 và 4:
Ở đây, được diễn tả một cách diễm lệ khi
tin tức loan báo rằng hoàng tử đã ra khỏi hoàng cung, phụ nữ ở trong
thành bị thúc giục bởi lòng hiếu kỳ, từ khuê phòng của mình đã leo lên
mái nhà và trên các cửa sổ, bị trở ngại bởi những cái đai thắt lưng, họ
đã tháo ra, và lao vội ra phía trước với sự vội vã cấp bách nhất và xô
đẩy nhau, tiếng va chạm loảng xoảng của đai nịt áo và vòng xuyến trang
sức đã làm kinh hãi các loài chim trên mái nhà. Những khuôn mặt tươi đẹp
diễm lệ như hoa sen, lấp ló xuất hiện bên ô cửa sổ, nhe thể các bức
tường của các dãy nhà thực sự được tô điểm bằng các đoá hoa sen. Khi
Cowell lưu ý điểm nầy trong lời tựa cho ấn bản của ông về Phật sở
hành tán, Kālidāsa đã mô phỏng cảnh nầy từ Mã Minh (Buddha-carita,
iii 13/24) trong tác phẩm Raghuvamsha (vii, 5/12) của ông. Cuộc
găp gỡ của ông lão do chư thiên biến hoá hiện ra trước hoàng tử được mô
tả một cách thú vị. Trong nỗi ngạc nhiên của mình, hoàng tử hỏi:
Người già bên vệ đường
Là ai, hỡi Xa-nặc?
Tóc bạc, mắt trũng sâu
Lưng còng trên cây gậy,
Tay chân đều run rẩy?
Là tiến trình tự nhiên
Hay trò đùa số phận?
Người đánh xe trả lời:
Tuổi già huỷ hoại ông
Đánh cắp đi sắc đẹp
Kẻ phá huỷ sức mạnh,
Cội nguồn của u buồn
Kết thúc của niềm vui,
Kẻ thù của trí khôn,
Tiêu hoại bao ký ức.
Cũng uống dòng sữa mẹ
Như trẻ thơ học đi
Theo tiến trình thời gian.
Dần dần nên khôn lớn
Mạnh mẽ thành trai tráng,
Năm tháng, tuổi chất chồng
Già lão nặng trên vai.’
Sau khi Thái tử học được những điều qua
ba chuyến đi chơi ngoài hoàng cung, về già bệnh và chết, Thái tử không
còn thấy trên đời có niềm vui gì nữa cả. Thật vô ích khi vị thầy tế của
hoàng tộc theo lệnh của vua triệu tập cung phi thể nữ trong hoàng cung
bắt họ phải đem hết sức lực dùng nghệ thuật quyến rũ để làm nguôi ngoai
Thái tử và kéo ngài trở lại với tâm tư thất vọng u buồn. Thái tử vẫn giữ
không bị tiếp xúc với trò tiêu khiển êm dịu đó. Ngài chỉ nghĩ đến sự
nông cạn của những người phụ nữ nầy và thốt lên (iv, 60 f.):
Thật vô nghĩa làm sao
Con người trước mắt ta
Láng giềng họ bệnh hoạn
Thấy già chết đến nơi
Mà cứ ham giữ chặt
Những vật quý trên đời
Không rùng mình lo sợ.
Như cây bị bóc vỏ,
Hoa trái phải tàn rơi.
Không làm cây bên cạnh
Biết xúc động riêng mình.
Nghệ thuật lãnh đạo,
nghệ thuật thơ tình và chiến tranh
Sự trình bày các hình ảnh yêu thương
thuộc về các yếu tố không thể thiếu được trong thi ca cũng như đặc điểm
vốn có đối với triều đình. Và thi ca làm hài lòng yêu cầu nầy trong sự
mô tả niềm vui của những người phụ nữ yêu kiều đang nỗ lực lôi cuốn Thái
tử về với họ (iv, 24/53) cũng như trong chân dung sống động của cảnh
trời đêm với những người phụ nữ kiều diễm khiến cho Thái tử bay ra khỏi
hoàng cung. Những đề tài nầy cho Mã Minh cơ hội để trình bày nghệ thuật
thơ trữ tình. Có thể lưu ý rằng sự mô tả (v, 48/62) trong hình ảnh
nguyên sơ là được kể lại chi tiết bởi chàng Da-xá (Yasa) trong Luật tạng
(Vinayapitaka) bằng tiếng Pāli. Chúng ta đã có cơ hội để nhận định có
một cảnh tương tự trong sử thi Ramayana (v, 9/11) đã được sao
chép từ tác phẩm của nhà thơ Phật giáo Mã Minh nầy.
Nhà thơ cung đình, tuy vậy, cũng phải
quen thuộc với học thuyết về nitiśastra hay là về thuật trị nước
(statecraft). Và những nguyên lý vũ trụ phổ quát đều bị phong kín
đối với Thái tử do các thầy tế giữ chặt trong nội cung để làm lệch hướng
trầm tư của Thái tử (iv, 62/82). Cuối cùng, liên quan tới cùng một thể
loại thi ca cung đình là mô tả về cảnh chiến trường. Ở đây nhà thơ của
chúng ta có cơ hội trong đoạn thứ 13, ngài gợi lên một cảnh sống động
cuộc chiến đấu của Đức Phật với ma vương cùng quyến thuộc của ma.
Tình yêu và tín ngưỡng
Ngài Mã Minh là tác giả của một tác phẩm
thi ca khác được sắp xếp vào trong mục của thi ca cung đình, đó là tác
phẩm Tôn-già-lợi Nan-đà (Saudarananda-kāvya). May mắn người phát
hiện và biên tập tác phẩm nầy là Học giả Haraprasada Shastri (A.
Bastion, JA 1902, vol. xix, p. 79 ff and P. W. Thomas JRAS 1911, p.
1125). Tác phẩm cũng xoay quanh lịch sử cuộc đời Đức Phật, nhưng đặc
biệt khắc hoạ những tình tiết và cảnh nầy vốn hoặc đã thấy đôi chút hoặc
đã đề cập toàn bộ trong Phật sở hành tán. Thế nên trong đoạn đầu
tiên, dành để mô tả tường tận lịch sử tìm kiếm thành Ca-tì-la-vệ
(Kapilavastu). Tự nhiên, nội dung thực sự của tập thơ nầy, lại được dựng
lên bởi tình yêu của nàng Tôn-đà-lợi (Sundari) và Nan-đà (Nanda), người
em cùng cha khác mẹ với Đức Phật, ban đầu muốn xuất gia, sau đó chí lại
muốn chống lại:
‘Chính như nàng Tôn-đà-lợi (Sundari),
người vợ mới cưới của Nan-đà, khóc than và tiếc nuối người chồng vừa bỏ
đi của mình, và Nan-đà cũng sầu khổ vì người thương của mình. Những nỗ
lực của các vị sư huynh tìm cách làm dịu lòng ông. Ngay cả những lời nói
của Phật cũng bất lực khi hoá giải cho ông. Rồi Đức Phật dùng bàn tay
mình đưa ông lên dạo chơi cõi trời. Trên đường đi, ngang qua
Hy-mã-lạp-sơn, Đức Phật chỉ cho Nan-đà thấy một con khỉ cái chột mắt,
Đức Phật hỏi Nan-đà rằng chắc Tôn-đà-lợi đẹp hơn con khỉ ấy. Nan-đà mạnh
dạn đáp ‘Phải.’ Tuy nhiên, sau đó, Đức Phật đưa Nan-đà vào cung trời và
thấy các tiên nữ (upmras), Nan-đà thấy rằng họ và vợ mình khác biệt
nhiều quá, cũng như khác biệt giữa với mình và con khỉ cái vậy. Từ đó
trở đi, Nan-đà có lòng say đắm các tiên nữ và khi trở về hạ giới liền tu
tập khổ hạnh để mong được sinh lên cõi trời. Do đó, A-nan, thị giả của
Đức Phật, dạy cho Nan-đà thấy rằng hưởng lạc ở cõi trời cũng chỉ là vô
ích và chẳng lâu bền. Cuối cùng Nan-đà tin nhận và đi đến chỗ Phật thưa
rằng ông không muốn sắc đẹp tiên nữ cõi trời nữa. Đức Phật rất hài lòng
và dạy ông vài lời những điều chính yếu về giáo pháp tu tập. Bây giờ
Nan-đà lui về trong rừng tu tập Tứ niệm xứ (four great meditations) và
chứng quả A-la-hán. Với lòng tri ân, Nan-đà đi đến chỗ Phật để đảnh lễ
ngài nhưng Đức Phật dạy ông rằng nay ông đã chứng được quả vị, hãy lên
đường vì lòng thương tưởng đến mọi người mà giảng dạy giáo pháp giải
thoát giúp họ được giác ngộ.’
Tham khảo về sự chuyển biến đầy sức thuyết phục của Nan-đà còn diễn ra
trong các nguồn thư tịch cổ hơn: Mahavagga, i. 54; Nidanakatha p. 91;
Rhys Davids Buddhist Birth Stories, p. 128. A3 do Haraprasada Shastri
(p. xiii) nêu ra, một dị bản lệch hướng rất nhiều với truyền thuyết nầy
được thấy trong tạng Pāli khi chú giải về Kinh Pháp cú (Dhammapada). Xem
thêm Spence Hardy, Manual of Buddhism; Kern, History of
Buddhism. J, 155; Foucher, Greco Buddhist Art (i, 464).
Tổng hợp các trường phái
Trong khi Phật sở hành tán chưa
có biểu hiện giáo lý bắt nguồn cho Đại thừa, phần nội dung bao hàm trong
Saundarananda-kavya đã bắt đầu đi ngược thiên hướng Đại thừa.
Điều ấy chưa đủ khi chính Nan-đà sẽ trở thành bậc thánh chứng đắc
niết-bàn. Nan-đà còn phải là một người truyền dạy niềm tin, dù việc ấy
không bị bỏ quên, thậm chí như trong tạng kinh Tiểu thừa, có đề cập đến
bổn phận truyền dạy đức tin và quy y cho tín chúng là điều được tán
dương cao cả, như trong kinh Anguttara-nikāya. Bên cạnh đó, tác
phẩm vĩ đại thứ ba của ngài Mã Minh là Trang nghiêm kinh (Laṅkāra-sūtra),
mà đến bây giờ chúng ta chỉ biết qua một bản dịch bằng tiếng Pháp từ
tiếng Hán phiên bản vào năm 405 stl., nhiều câu chuyện bán truyền kỳ
được xây dựng từ trong truyền thống Tiểu thừa. Từ bản dịch Trang
nghiêm kinh (Laṅkāra-sūtra) từ tiếng Hán của ngài
Cưu-ma-la-thập sang tiếng Pháp, ông Huber mới có thể theo dấu tích ba
câu chuyện trong Divya-vadana (BEFEO, 1904, pp. 709-726), nhưng bản gốc
tiếng Sanskrit vừa mới được phát hiện ở Thổ-phồn (Turfan) và được Luders
nghiên cứu từ một bản thảo viết trên lá cọ (palm) thời xưa, (xem
Fragments of Bhuddhist Drama, Berlin, 1911, và Valleé Poussin Le
Museon, 1909, p. 86.)
Trang nghiêm kinh (Laṅkāra-sūtra)
Trang nghiêm kinh
là một tập hợp gồm nhiều mẫu truyện đạo theo kiểu mẫu của truyện Bản
sinh (Jātaka) và Thí dụ (Avadāna) được kể bằng văn xuôi và thể thơ với
phong cách nghệ thuật thi ca Ấn Độ. Nhiều truyện nầy chúng ta đã được
biết đến như trong Trường bộ kinh (Dirghayus) hay chuyện Thái tử Trường
thọ (prince Long-life) và vua Shibi. Những chuyện khác biểu hiện nhiều
tinh thần Đại thừa hay ít nhất là lòng tôn kính Đức Phật với nhiều chất
Đại thừa hơn xu hướng của nó. Một minh hoạ được dành sẵn qua chuyện số
57, cũng cho thấy là một trong những chuyện hay nhất trong bộ nầy.
Có một người đến tinh xá và muốn được
xuất gia. Ngài Xá-lợi-phất khảo nghiệm người nầy và biết được ông ta
trong những đời trước chưa từng làm một việc hiện nào và tuyên bố rằng
ông ta không xứng đáng được nhận vào tăng đoàn. Người kia rời khỏi tinh
xá khóc ròng. Rồi Đức Phật gặp ông ta, với lòng tràn ngập lòng từ, ngài
nỗ lực chuyển hoá cả nhân loại với lòng bi mẫn như người mẹ thương con.
Đức Phật đặt tay trên đầu người kể lại ông ta đã bị Xá-lợi-phất từ chối
như thế nào, Đức Phật an ủi ông ‘bằng lời nói vang vọng như sấm rền từ
xa’ và nói thêm rằng Xá-lợi-phất chưa thông hiểu hết mọi sự. Chính Đức
Phật đưa người nầy về tinh xá và ngài nói với đại chúng về nghiệp
(karma). Có một thiện nghiệp mà nhờ đó người kia đã có ngay được sự
giải thoát. Vào thời xa xưa, trong kiếp trước, người nầy là tiều phu
nghèo thường vào rừng làm nghề đốn củi, một hôm gặp con cọp đuổi bắt
ông. Qua sợ hãi ông ta la lên ‘Nam mô Phật!’
Nhờ những lời nầy, người kia được dự phần vào sự giải thoát khỏi buồn
lo. Chính Đức Phật làm lễ xuất gia cho ông và hiện đời ông chứng quả
A-la-hán.
Một ví dụ về lòng sùng kính Phật mang
tính Đại thừa thực sự (Mahayanistic Buddha-bhakti) còn được trình bày
trong chuyện số 68, trong đó bà Kiều-đàm-di (Gautami), mẹ kế của Đức
Phật, chứng được niết-bàn nhờ vào thành tâm cầu nguyện đến Đức Phật.
Trang nghiêm kinh (Laṅkāra-sūtra)
là có nguồn gốc trễ hơn Phật sở hành tán được chứng minh bởi thực
tế là những dữ kiện trong Phật sở hành tán được trích từ trong
Trang nghiêm kinh (Huber, page 192, 222). Vì trong 2 chuyện của
Trang nghiêm kinh, một phần là vai trò của vua Ca-nị-sắc-ca, ngài Mã
Minh ắt phải sống vào thời kỳ biên soạn tác phẩm nầy như là một nhân vật
cựu trào trong triều đình của vua. Nhưng chúng ta lấy làm tiếc rằng mãi
cho đến bây giờ chúng ta chỉ có được một bản dịch tiếng Hán của Trang
nghiêm kinh. Bản tiếng Sanskrit từ lâu nay vẫn chưa được phát hiện.
Không chỉ như vậy, trong đó một tác phẩm văn học quan trọng, phẩm chất
chính nó gây ấn tượng lên chúng ta qua hai bản dịch, đầu tiên là bản
tiếng Hán, và thứ hai là bản tiếng Pháp, như đã được xem xét chính xác
bởi Lévi, nhưng nó không thuộc về ý nghĩa tầm thường trong lịch sử văn
học và văn hoá Ấn Độ vì nó đề cập đến thiên anh hùng ca Mahabharata
và Ramayana, nó tuyên chiến với học thuyết triết học của phái Số
luận (Sāṃkhya) và Thắng luận (Vaiśeṣika) một cách mạnh mẽ cũng như chống
lại quan niệm tôn giáo của đạo Bà-la-môn và Kỳ-na giáo (Jains) và đề cập
với nhiều cách về chữ viết, về nghệ thuật và hội hoạ. Lại nữa, điều
không chắc chắn là vấn đề đáng tiếc về một vài tác phẩm khác được gán
cho ngài Mã Minh. Một câu hỏi đặt ra là liệu chúng có thật là cuả ngài
không? Điều nầy đặc biệt có hiệu lực đối với Vajrasuchi hay
Diamond Needle, vốn trong vài trường hợp, sự quan tâm đến những tác phẩm
nhỏ bé vốn đã gây ra những cuộc luận chiến kịch liệt chống lại giai cấp
Bà-la-môn.
Vajrasuchi : luận chiến chống lại giai cấp
Vajrasuchi hay là sự bác bỏ những luận cứ hình thành đạo
Bà-la-môn, giai cấp được hình thành bởi nhà học giả đạo Phật Mã Minh
(Lancelot Wilkinson biên tập), cũng như trong tác phẩm Tunkii của
Soobajee Bapoo, được hồi đáp lại bởi Wujra Soochi, 1839. A Weber, Uber
die Vajrassuei (Abdhandlungen der Preuss. Akademie der Wissenschaften
phil. hist. K1.7S59, S. 295 ff. und Indische Streifen I, 116 ff.) B. H.
Hodgson Essays on the Languages, Literature and Religion of Nepal and
Tibet, London 1874, p 126 11". Và S. Levi A. 1908, s. 10 fc, XII p. 70
f.
Ở đây tác giả sử dụng rất có hiệu quả
những quan điểm của Bà-la-môn và chứng minh về thẩm quyền các kinh văn
và trích dẫn của Bà-la-môn từ những kinh Phệ-đà, sử thi Mahabharata và
bộ luật Manu những yếu tính không còn hiệu lực từ tuyên bố của giai cấp
được công nhận bởi tầng lớp Bà-la-môn. Khi năm 1829 Hodgson ấn hành bản
dịch tác phẩm nầy và năm 1839 Wilkinson đưa ra một ấn bản, chúng đã làm
sửng sốt giới học giả bởi tinh thần dân chủ của Châu Âu đã thể hiện qua
cuốn sách. Trong luận văn nầy, học thuyết bình đẳng của nhân loại đã
được tán trợ; vì mọi con người sinh là để ‘được tôn trọng bởi niềm vui
và nỗi buồn, tình yêu, tri thức, tính cách, phương tiện, chết sống, sợ
hãi, đều bình đẳng.’ Chúng ta có biết nhiều hơn về tác giả và thời đại
khi cuốn sách được biên soạn điều ấy sẽ rất quan trọng cho lịch sử văn
học Ấn Độ về những trích dẫn từ kinh văn Bà-la-môn. Nói về thẩm quyền
tác giả Mã Minh, trong Trang nghiêm Kinh số 77, thể chế Bà-la-môn
công kích cùng với sự trợ lực trích dẫn từ sách luật Manu như trong
Vajrasuchi. Mặt khác, Vajrasuchi không thấy được liệt kê trong tạng
Tanjur của Tây Tạng cũng như trong các tác phẩm của Mã Minh do nghĩa
Tịnh viết; và xa hơn nữa là trong Tam tạng Trung Hoa bằng tiếng Hán.
Vajrasuchi được cho là ‘có sự bác bỏ Tứ thư Phệ-đà,’
mô tả là được dịch sang tiếng Hán từ năm 973 và 981, được gán cho là của
ngài Pháp Xứng (Dharmakīrti) (Bunyo Nanjio, Catalogue of the Chinese
translation of the Buddhist Tripitaka, No. 1303). Pháp Xứng
trong tiếng Hán là dịch chữ Dharmakīrti từ Sanskrit.
Các tác phẩm khác của Mã Minh
Hoàn toàn không xác định được những tác
phẩm mà tác giả được gán cho ngài Mã Minh bằng tiếng Hán, Nhật Bản, và
Tây Tạng, tác phẩm nào thực sự là cuả ngài. Sự nổi tiếng của ngài như là
một Đại sư của Đại thừa là căn cứ trên tác phẩm Đại thừa Khởi tín
luận,
một chuyên luận triết học được nghiên cứu trong các tu viện Nhật Bản như
là nền tảng của giáo lý Đại thừa. Lévi nhận định, ‘Nhà thơ của Phật
sở hành tán, đã thể hiện ở đây như một người gan dạ làm hồi sinh một
giáo lý đã có trù định nhằm phục hưng Phật giáo.’ Tuy nhiên, có điều gì
đó chắc chắn hoặc rất có thể là không chắc đó thực sự là tác phẩm của Mã
Minh vì nó thể hiện những giáo lý vốn có thể được gán thêm vào sau nầy.
Tuy vậy, quá lâu khi bản tiếng Sanskrit của cuốn sách đã phủ nhận chúng
ta như là phán xét cuối cùng về thời đại của tác giả là điều không thể
xảy ra.
Đại thừa Khởi tín luận
đầu tiên được dịch sang tiếng Hán vào năm 534 và rồi lần thứ hai vào năm
710 stl. Từ bản dịch tiếng Hán lần thứ hai T. Suzuki
dịch sang tiếng Anh nhan đề Discourse of the awakening of Faith in
the Mahāyāna. Suzuki cho rằng Mã Minh nhà thơ là tác giả và khẳng
định chính nền tảng của tác phẩm, chính qua Đại thừa Khởi tín luận
mà ngài trở thành người thực sự xiển dương Đại thừa. Tuy vậy, học thuyết
trong tác phẩm đó kết hợp chặt chẽ với trường phái Duy thức
(Vijñānavāda)
do ngài Vô Trước khởi xướng, và giáo lý Như Lai tạng
(Tathāgatagarbha) và Chân như (Tathatā)
Xuất hiện trong Kinh Lăng già
(Laṅkāvatāra).
Giáo sư Takakusu, những có thẩm quyền về nhà thơ Mã Minh cũng cho rằng
vấn đề hoàn toàn không phải ở chỗ đó, ông nói rằng các thư tịch cổ của
Trung Hoa không thấy có tên ngài Mã Minh như là một tác giả. Trong tạng
Tanjur của Tây Tạng, ngài Mã Minh còn được mô tả như là người biên soạn
Śata panacaśatikanamastora, tán ca (panegyric) gồm 150 câu kệ,
theo ngài Nghĩa Tịnh, đó là tác phẩm của nhà thơ Matriceta. Thực tế,
ngài Nghĩa Tịnh không thể nói quá nhiều về sự nổi bật nầy của Matriceta,
người mà trong mọi sự kiện, đều thuộc về cùng một trường phái với ngài
Mã Minh và do đó, nhầm lẫn với Mã Minh.
Matriceta.
Theo sử gia Tây Tạng Taranatha,
Matriceta chính là tên gọi khác của Mã Minh, (F.W, Thomas OC XIII, 1902,
p. 40). Người ta không dám chắc rằng Matriceta nầy là một với Matriceta,
tác giả của Maharajakanikalekha, (Thomas Ind. Ant,, 1903, p. 345
ff. and S. C. Vidyabhushana JASB, 1910, p. 477 ft.). Ngài Nghĩa Tịnh nói
rằng ‘Đó là sự gia nhập vào một giáo đoàn tăng sĩ để nghe tụng bài tán
ca gồm 150 hoặc 400 câu kệ. Những vầng thơ diễm lệ nầy như hoa trời với
vẻ đẹp và nguyên lý thắng diệu mà mà chúng đua tranh phẩm tính trên đỉnh
núi cao. Do vậy, các nhà sáng tác tán ca ở Ấn Độ đều bắt chước phong
cách của ngài và xem ngài như là tị tổ của văn học. Ngay cả người như
Bồ-tát Vô Trước và Thế Thân cũng vô cùng tán thán ngài. Mọi tăng sĩ khắp
cả Ấn Độ, ngay khi biết đọc tụng năm hoặc mười giới, chính là được học
từ thánh thi của Matriceta.’ Tương truyền có lẽ đời trước của ngài là
loài chim sơn ca từng tán dương Đức Phật bằng những giai điệu tuyệt
diệu. Nghĩa Tịnh đã dịch từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán. Tuy vậy, đến
nay may mắn là chúng ta đã phát hiện được ở vùng Trung Á những bản gốc
tiếng Sanskrit những tán ca của Matriceta và từ những bản thảo bị rách
nát được phát hiện ở Thổ-phồn, chúng ta đã nhờ vào đó rất nhiều,
Siegling đã tiến hành cấu trúc lại hầu như ⅔ văn bản. Những bài kệ đều
có tính nghệ thuật, nhưng không cường điệu như phong cách của Kavya.
Tiến sĩ Siegling đã chuẩn bị ấn bản nầy để ấn hành tương tự như các bản
rời được phát hiện ở Trung Á vừa được Levi in lại (JA 1910, page 455) và
Vallee Poussin (1911, page 764) F. W. Thomas đã dịch một trong các tập
thơ của Matriceta là Varnanartha-varnana, từ bản tiếng Tây Tạng
dịch sang tiếng Anh (Ind. Ant. vol. 34, p. 145).
Shura, nhà thơ Phật giáo
Được biết đến nhiều nhất là nhà thơ
Shura hay Aryashura, có lẽ cùng xuất thân từ cùng một trường phái, mặc
dù nó thuộc về một niên đại sớm hơn với Jatakamala rất giống với kiểu
thức của Trang nghiêm Kinh (Sutralaṃkāra). Tuy nhiên, Jatakamala
(Garland of Jatakas) chỉ là danh xưng một thể loại. Vài nhà thơ đã sáng
tác jatakamalas có nghĩa là, họ đã sáng tác thoải mái một thể thơ kể
(poetic speech) độc đáo pha trộn những phần văn xuôi và văn vần của
Jatakas. Đó cũng không phải là việc của Aryashura khám phá ra những câu
chuyện mới mà là mô phỏng lại truyện ký cổ điển với cách diễn đạt tao
nhã và nghệ thuật hơn. Cách diễn tả của ông trong văn xuôi cũng như văn
vần là thuộc loại kavya, nhưng quý phái và cao nhã hơn, nghệ
thuật hơn là giả tạo. Đến chừng mực jataka với ý định được tận
dụng của chư tăng trong các bài giảng của họ, jatakamala cũng xem
những mục đích nầy cho việc giảng pháp. Chỉ có nhà thơ là có lẽ chính
người giảng pháp giữa triều đình, không có ai ngoài nhà thơ trước mắt
họ, cử hành những buổi thuyết pháp trong giới quý tộc nơi mà thi pháp
Sanskrit được nhận biết và tán thưởng. Tác phẩm gồm 34 truyện bản sanh,
giống như 35 truyện trong Cariyapitaka bằng tiếng Pāli minh hoạ tinh
thần ba-la-mật-đa (pāramitā) hay tính chất ưu việt của Bồ-tát. Hầu như
mọi câu chuyện cũng xuất hiện trong truyện bản sanh bằng tiếng Pāli và
12 chuyện tương tự như vậy được tìm thấy trong Cariyapitaka. Nhiều bài
kệ tiếng Sanskrit hài hoà với truyện bản sanh bằng tiếng Pāli (Xem bản
dịch của Speyer, p. 337.) Có ít chuyện thiếu trong bộ sưu tập Pāli thuộc
về phần đầu, kể lại khi Bồ-tát gặp cọp đói sắp ăn con nó và ngài hy sinh
để cứu nó. Đó là một cấu chuyện rất tiêu biểu và có thể sao lại ở đây
như một ví dụ của văn học có tính giai thoại với ý định chuyển tải giáo
lý từ bi rộng lớn của Đại thừa
Tình thương vô ngã của Đức Phật
Câu chuyện tiêu biểu nhất có nội dung
như sau:– Trong những đời trước, ngài đã thể hiện tình thương vô ngã đối
với mọi chúng sinh và khiến cho mình miệt mài chăm sóc các loài khác. Do
vậy, con người được Đức Phật Thế tôn yêu thương ắt phải có lòng quyến
luyến. Khi câu chuyện kỳ diệu sau đây về một phần trong kiếp trước của
Đức Phật được kể lại–một công hạnh nổi bật của bậc Đạo sư tôn kính của
mình, một trong ba ngôi báu (Tam bảo) đã có sự toại nguyện đối với thầy
dạy của mình bởi nội quán của ngài và chính ngài trở thành một bậc Đạo
sư lỗi lạc trong việc tìm cầu chân lý. Trong những ngày nầy, Bồ-tát mà
bây giờ là Thế tôn, khi theo đuổi lời nguyện cao cả của mình vì lòng
nhân từ, yêu thương, giúp đỡ người nghèo ban tặng cho thế gian lòng từ
ái phát xuất từ dòng suối trí tuệ sáng suốt và từ bi được sinh trong một
gia đình Bà-la-môn, hiến mình cho bổn phận và tính ưu việt, tri thức và
năng lực.” Đến khi trưởng thành, ngài liền thông thạo mọi ngành nghệ
thuật và khoa học. Ngài đạt được nhiều danh dự và sang trọng. Tuy nhiên,
ngài không thấy vui thích cuộc sống ở thế gian, và chẳng bao lâu, ngài
từ bỏ tất cả. Như một đạo sĩ khổ hạnh, ngài sống trong rừng. Một hôm,
ngài đi qua rừng cùng với một môn đệ, ngài thấy trong hang có một con
cọp đã kiệt sức vì đói và nó đang muốn ăn con của nó đang tin tưởng đến
gần cọp mẹ để được bú.
Khi Bồ-tát thấy vậy,
Rung động, ngài can đảm,
Lòng từ ái tràn ngập,
Với nỗi buồn cận kề.
Như hoàng tử sơn vương
Trong một cơn động đất.
Lạ thay lòng trắc ẩn
Vẫn giữ tâm dũng cảm
Dù gặp nỗi đau buồn.
Nhưng khi bị ray rứt
Vẫn có phần nao núng.
Ngài sai đệ tử đi kiếm thịt. Nhưng đây
chỉ là cái cớ để ngài chỉ còn một mình. Ngài đã quyết định tự gieo thân
mình xuống vực sâu để cứu mạng chúng sinh bằng cách làm thức ăn cho cọp
mẹ. Ngài chọn giải pháp nầy vì thấy cuộc sống trần gian vô nghĩa nầy
chẳng có giá trị gì ngoài việc phụng sự cho kẻ khác. Lại nữa, ngài muốn
đưa ra một ví dụ để khích lệ những ai muốn làm lợi ích cho thế gian, nêu
sự xấu hổ cho những người tự tư tự lợi, nhắm vào sự vui sướng tuyệt
trần, và chỉ mình đạt được giác ngộ sau cùng. Ngài chẳng có mong muốn gì
khác hơn:–Không phải vì lòng tham, không mong cầu tiếng khen, cũng chẳng
mogn hưởng thú vui cõi trời hay đạt đến địa vị vua chúa; cũng chẳng mong
cầu dục lạc đời đời; mà chỉ làm những điều tốt lành cho người bên cạnh,
nên ta làm như vậy. Chắc chắn điều nầy là đúng đắn, thế nên ta cứ cho là
như vậy để thoát khỏi khổ đau trần thế và đem sự cứu độ đến cho họ, ngay
cả khi mặt trời toả ánh sáng mà đêm tối muốt chửng mất ánh sáng ấy.”
Với những lời nầy, Bồ-tát gieo mình
xuống vực sâu. Cọp mẹ đang có dự định ăn thịt con nghe thấy tiếng động
liền rời xa con mình, nhảy vào ngay thân thể Bồ-tát để ăn. Khi người đệ
tử trở về chứng kiến cảnh tượng, chú vô cùng xúc động và phát ra những
câu kệ thể hiện sự sùng kính bậc Đạo sư tối thượng. Loài người, chư
thần, chư thiên đều tỏ lòng thán phục Thế tôn bằng cách kết những tràng
hoa và đá quý phủ lên trên những nắm xương của ngài còn sót lại.
Sự xúc cảm vô cùng tận về công hạnh
Bồ-tát còn được ca tụng trong nhiều câu chuyện khác.Nf Nghĩa Tịnh tán
dương Jatakamala hay Jatakamalas trong số những tác phẩm
trong thời đại của ngài là những tác phẩm được ưa chuộng nhát và được
đọc nhiều nhất ở Ấn Độ. Trong số những tranh vẽ trên tường (frescoes)
trong động đá Ajanta có những cảnh lấy nội dung trong truyện Jatakamala
được khắc stophes từ Aryashura. Nét khắc thuộc đồ hình cổ sinh
vật học (palaeographically) vào thế kỷ thứ 6 stl. và từ đó các tác phẩm
khác của Aryashura đã được dịch sang tiếng Hán vào năm 434, nhà thơ chắc
đã sống vào thế kỷ thứ IV.
Nghĩa Tịnh (I-tsing), Bản dịch
của Tatakusu, p. 166 f.; H. Luders, NGGW 1902, p. 758 ff B. Nanjio,
Hatalogoe of the Chinese Tripitaka, No. 1349 ; The Zachariae, GGA, 1888,
p. 850, F. W, Thomas in Album Kern, p. 405, S.
Bản dịch tiếng Hán về Jatakamala đề cập
đến Aryashura như là tác giả. Chỉ có 14 truyện, xin xem Ivanovski trong
BHB, 1903 V. 47, p. 298 fi.
CHƯƠNG V
Văn hỌc Avadāna (Thí dỤ)
Bản sanh man (Jātakamālā)
còn được gọi là Bodhisattva Avadāna mālā, vì Bodhisattva Avadāna đồng
nghĩa với Jātaka. Cho nên Bản sanh (Jātaka) chẳng gì khác hơn là
Avadanas (Thí dụ) mô tả Bồ-tát là các bậc anh hùng. Dó vậy, các tác phẩm
như Trang nghiêm Kinh và Bản sanh man (Jātakamālā) có nhiều điểm
chung về văn bản với văn học Avadāna. Mặt khác, vô số truyện bản sanh
được tìm thấy trong bộ sưu tập Avadāna.
Về văn học Avadāna, nói chung xin xem tác phẩm Dẫn nhập Lịch sử Phật
giáo (Introduction to the History Of Buddhism, p. 207 ) của Burnouf. Của
Feer trong phần giới thiệu về bản dịch của ông; và Speyer trong Lời nói
đầu trong ấnn bản của ông về Avadansahataka.
Sự tôn kính Đức Phật
Như hai tác phẩm văn học truyện ký Phật
giáo, các văn bản của Avadāna vẫn còn, nên có thể nói rằng, nó đứng một
chân trên Tiểu thừa và chân kia trên Đại thừa. Và Nghĩa Tịnh (Takakusu,
p. xxii f. và 14 f.), cho chúng ta biết rằng đường phân ranh giữa Tiểu
thừa và Đại thừa vốn thường là cái gì đó không linh động. Những tác phẩm
cổ xưa hơn hoàn toàn thuộc về Tiểu thừa và do vậy, nó thể hiện cùng lòng
tôn kính đối với Đức Phật mà như thế, lại thiếu trong truyện Bản sanh
của Pāli là apadana; nhưng chúng tránh lối cường điệu thần thoại
trong Đại thừa, trong khi avadāna muộn nhất lại thấm đẫm chất
Đại thừa.
Avadāna là gì?
Thuật ngữ avadāna biểu tượng cho
sự sùng đạo cao tột hoặc sự thành tựu đạo đức, cũng như là lịch sử của
sự thành tựu cao cả ấy. Những công hạnh cao cả ấy có thể bao gồm trong
sự hy sinh cuộc đời của chính mình, mà cũng có thể bị giới hạn trong sự
hình thành một cơ sở từ thiện để cung ứng hương hoa, vàng bạc châu báu
để kiến trúc, xây dựng chùa tháp, chi-đề (caitya), v.v... Vì
những truyện nầy như là một phép tắc được cho là khắc sâu vào tâm trí
rằng làm những việc xấu ác sẽ phải gánh chịu những quả báo đen tối, làm
những việc phân minh sẽ có những quả báo tốt lành, cùng lúc và hành vi
của con người trong một đời lại liên quan mật thiết với những gì đã có
trong quá khứ hoặc sẽ xảy đến trong tương lai? Nó được xem như là truyện
ký chỉ từ quan niệm hiện thời của chúng ta. Đối với Đức Phật, chúng đều
là hiện thực. Quả thực chúng đã được chính Đức Phật kể lại và được bảo
đảm đó là lời nói của Đức Phật–Buddhavacana; Phật ngôn–tương tự như Kinh
(Sutra). Cũng như truyện Bản sanh (jātaka), Thí dụ (avadāna) là một
trong những thể loại của Kinh. Thể loại nầy thường kể theo lối giới
thiệu nơi nào hoặc dịp nào mà Đức Phật kể câu chuyện vào thời quá khứ,
và khi kết luận, Đức Phật rút từ trong câu chuyện tính chất luân lý của
giáo pháp. Do vậy, thông thường Thí dụ (avadāna) gồm có một câu chuyện
hiện tại, một câu chuyện thời quá khứ và một lời răn dạy. Nếu người anh
hùng trong câu chuyện thời quá khứ là một Bồ-tát, Thí dụ (avadāna) cũng
có thể được chọn để làm một truyện Bản sanh (jataka). Một thể loại đặc
biệt khác như Thí dụ là trong đó Đức Phật thay vì kể lại chuyện quá khứ
mà là sự Thọ ký (prognostication) cho tương lai. Những giai thọai tiên
tri nầy được xem như câu chuyện trong quá khứ để giải thích cho nghiệp
trong hiện tại. Ngoài ra còn có những Thí dụ (avadāna) trong đó cả phần
câu chuyện là nhất quán và cuối cùng có một dạng trong đó nghiệp báo
hiển bày hoặc tốt hoặc xấu tuỳ theo hiện đời. Tất cả các loại Thí dụ
(avadāna) nầy thỉnh thoảng xảy ra trong Luật tạng (Vinaya piṭaka) và
Kinh tạng (Sutra piṭaka). Tuy nhiên, chúng được kết tập thành những bộ
đồ sộ với mục đích khai sáng tâm thức hay động cơ tham vọng văn học hơn.
Một tác phẩm đa dạng nhất là Avadānashataka, có lẽ là tác phẩm cổ
xưa nhất trong thể loại nầy. Nó là một bộ gồm khoảng 100 truyện Thí dụ
(avadāna). Vì nó đã được dịch sang tiếng Hán vào nửa đầu thế kỷ thứ III
và vì nó đề cập đến dinara, chúng ta có thể tạm quy cho nó thuộc
nửa đầu thế kỷ thứ II stl. Thuộc về truyền thống Tiểu thừa đã được biểu
thị bởi đặc điểm giai thoại; nhưng tương tự như chứng thực bởi trường
hợp trong truyện kể về hiện tại, có những đoạn rời tiêu biểu từ trong
tạng Sanskrit của Nhất thiết hữu bộ nói về Kinh Đại bát niết-bàn
(Pari nirvāṇa) và những kinh khác. Trong những truyện ký nầy, việc sùng
kính Đức Phật đóng một vai trò chính. Tuy vậy, không có một dấu tích về
cảctuyện ấy, về tín ngưỡng Bồ-tát hay các huyền thọai Đại thừa.
Avadānaṣataka
Avadānaṣataka gồm một bộ 10 quyển, mỗi
quyển đề cập một chủ để khác nhau. Bốn quyển đầu đề cập đến bản chất của
hành vi, sự thể hiện các hành vi đó khiến con người trở thành Phật hay
Bích chi Phật (Pratyeka Buddha). Sự phân chia thành hai varga (p:
vagga) của 10 thành phần của mỗi varga là thích hợp với tạng Pāli
và do vậy, nó sẽ xuất hiện với niên đại đạo Phật nguyên thuỷ. Các câu
chuyện thuộc quyển đầu và hầu như ba quyển đầu đều có tính chất tiên tri
(thụ ký–prophetic).
Ở đây, hành vi hiếu thảo được kể bởi
những người –một Bà-la-môn, một công chúa, con trai của người cho vay,
thương gia giàu có, người làm vườn, ông vua, người đưa đò, cô thiếu nữ,
v.v... –thể hiện sự kính trọng Đức Phật để thường dẫn đến việc xảy ra
nhiều điều kỳ diệu, và từ đó Đức Phật với một nụ cười cho biết rằng
những con người đặc biệt ấy, trong đời tương lai sẽ thành Phật, hoặc là
trở thành (trong quyển thứ ba) một Bích chi Phật. Mặt khác, các câu
chuyện trong quyển thứ hai và thứ tư là truyện Bản sinh (Jataka).
Về đức hạnh của các bậc thánh và những hành vi kinh ngạc của các ngài,
được giải thích rằng nhân vật anh hùng của các chuyện nầy chẳng ai khác
hơn chính là Đức Phật trong một đời trước của ngài. Một dạng của Ngạ
quỷ sự (s: Pretavastu; p: Petavatthu), được trình bày trong quyển
thứ năm. Một vị Thánh, thông thường là Mục-kiền-liên (Maudgalyayana)–đi
vào cõi giới ma quỷ và quán sát nỗi buồn của một trong các chúng sinh ở
đó, quỷ nam hay quỷ nữ. Ngài hỏi loài quỷ về nguyên nhân qủa báo của họ.
Quỷ xem ngài như là Đức Phật, và sau đó kể câu chuyện về ác nghiệp
(black deed), từ chối việc bố thí, xúc phạm các vị thánh, v.v... mà
chúng sinh nầy đã phạm trong đời trước. Quyển thứ sáu kể chuyện người
đàn ông và loài vật qua việc tu đạo mà được thọ sanh thiên thần ở cõi
trời. Bốn quyển cuối cùng kể những câu chuyện với nội dung chỉ ra bản
chất của hành vi dẫn đến qủa vị A-la-hán. Các vị A-la-hán trong quyển
thứ 7 đều xuất thân từ dòng họ Thích-ca (Śākya); những nhân vật trong
quyển thứ 8 đều là phụ nữ; những nhân vật trong quyển thứ 9 đều có đạo
đức không chê trách được; và những nhân vật trong quyển thứ 10 là những
người trước đó đã phạm ác nghiệp và chịu khổ kết quả sau đó nhờ vào hành
vi đạo đức mà cứng được quả vị A-la-hán.
Mô thức nhất định
Bây giờ những câu chuyện nầy trong bộ
sưu tập của chúng ta không chỉ được sắp xếp theo một kế hoạch hay hệ
thống rõ ràng mà được kể theo một mô thức đã định. Tiến trình công việc
nầy tuỳ thuộc vào một mô dạng được tuân thủ với mức lặp lại liên tục
những câu và miêu tả những tình huống với những chuỗi ngôn từ không thay
đổi. Như theo một mẫu cứng nhắc, mỗi câu chuyện đều bắt đầu với thể thức
quá dài dòng:
‘Đức Phật, Thế tôn, Tối thắng, Chí tôn,
Đại danh dự, được tán dương bởi các quốc vương, đại thần, trưởng giả,
các thần dân, các nghệ sĩ, các thủ lĩnh đoàn hành hương, chư thiên, long
thần, Dạ-xoa, a-tu-la, ca-lầu-la, Khẩn-na-la và Ma-hầu-la-già (gigantic
snakes), Đức Phật, Thế tôn, Đấng Đại oai đức, Đấng Phụng sự, dấn thân tu
hành cùng các đệ tử và cung ứng cho họ những thứ cần thiết như thực
phẩm, giường nằm, chỗ ở và thuốc thang trong hình tướng của người khất
thực, và đang lưu trú tại...’
Tương tự nhau, mỗi truyện nầy đều kết
thúc bằng:
‘Sau khi nghe Đức Phật nói như vậy, các
vị tỷ-khưu trong lòng phấn chấn, hoan hỷ tán thán lời dạy của Thế tôn.’
Sau cùng, khi tính chất luân lý của câu
chuyện được chỉ bày, tiến trình lúc nào cũng được mô tả qua những lời:
‘Do vậy, nầy các tỷ-khưu, quả của các ác
nghiệp là hoàn toàn xấu xa; quả của các thiện nghiệp là hoàn toàn tốt
đẹp; quả của các nghiệp vô ký (mixed) thì luôn luôn hỗn loạn; do vậy các
tỷ-khưu, các thầy nên từ bỏ ác nghiệp và nghiệp vô ký, và chỉ tạo sự an
vui của mình bằng những việc lành.’
Dấu tích văn hoá
Người mộ đạo, giới trưởng giả, kẻ quyền
lực tối cao, một đám cưới hạnh phúc, thanh niên trưởng thành, hình tướng
Đức Phật thời nguyên thuỷ và các hiện tượng tuần hoàn tương tự là luôn
luôn được mô tả bằng các thuật ngữ rập khuôn. Điều nầy không những chẳng
áp dụng cho vài câu đơn giản, mà nó còn giữ nhiều đoạn hoặc kéo dài vài
trang in. Một trong những đoạn nhất định nầy mô tả nụ cười Đức Phật mà
về sau dẫn đến một điều là mọi người đều có thể nắm bắt được hình tượng
Đức Phật. Đức Phật luôn luôn chuyển sang mỉm cười trước khi ngài thọ ký
cho tương lai. Khi cười, từ miệng ngài thường phóng ra những luồng hào
quang màu xanh, vàng, đỏ và trắng. Một trong những chùm ánh sáng này
phóng xuống tận địa ngục, và những chùm khác lại phóng lên tận cõi trời.
Sau khi vây quanh hàng ngàn và hằng ngàn ngôn từ, luồng ánh sáng ấy quay
về Đức Phật và tan biến vào trong chi phần khác của thân Phật tuỳ theo
tính chất của lời thọ ký; và tất cả những điều nầy được mô tả đến từng
chi tiết vi tế nhất. Sự phong phú và chi tiết nầy là đặc điểm của mô
thức truyện kể trong Avadana-śataka. Tuy nhiên, cùng với nhiều truyện là
sự sáo rỗng và nhàm chán, chúng ta luôn luôn có những chuyện có tính
giáo dục và nhiều giai thoại giá trị cũng những điều đáng ghi nhớ đa
dạng về các truyện khác để chúng ta có thể sử dụng được từ các phần khác
của văn học truyện kể. Chúng ta chỉ có thể trích dẫn vài ví dụ để nêu ra
một ý tưởng mô tả bộ sưu tập đáng lưu ý nầy của văn học dân gian Phật
giáo. Ở đây có vài mẫu chuyện tiêu biểu trong đó đời sống xã hội chân
thực của Ấn Độ được phản ánh.
Đệ tử nữ: Câu chuyện 28
Một cô gái nghèo xoa chân Đức Phật bằng
bột chiên đàn hương.
Việc nầy khiến cho toàn thành phố ngập tràn mùi hương chiên đàn. Ngay
nơi điều kỳ diệu nầy, cô gái vô cùng hân hoan, cô quỳ dưới chân Phật và
cầu nguyện rằng trong đời sau, cô sẽ được sinh làm một vị Bích chi Phật.
Đức Phật mỉm cười và thọ ký rằng cô sẽ được thành Bích chi Phật có danh
hiệu là Gandhamadana (e: Fragrance-Delight).
Lòng từ cao độ:
Câu chuyện 34
Câu chuyện nầy là phiên bản chuyện Thi
tỳ vương (Śibi), người đã bố thí hết tài sản của cải. Tuy nhiên, ông ta
không chỉ hài lòng việc làm cho mọi người vui lòng, ông muốn thể hiện
tâm từ của mình đến mọi loài chúng sinh vi tế nhất. Ông dùng dao cắt
thịt mình và phơi trần mình ra để cho chiêu đãi bầy ruồi bằng máu của
mình. Việc nầy Đế thích (Śakra; Indra) từ trên cung trời trông thấy và
hiện đến để thử vua Thi tỳ vương (Śibi) một lần nữa, Đế thích hiện ra
trước vua bằng con chim kên kên đang sẵn sàng vồ chụp lấy vua. Vua nhìn
chim chỉ với lòng từ và nói, ‘Này bạn, hãy ăn phần thân thể nào của ta
mà bạn thích; Ta sẵn sàng dành cho bạn.’ Từ đó, Đế thích liền hiện ra
thành Phạm thiên và xin vua cho hai con mắt. Thi tỳ vương (Śibi) nói,
‘Xin Phạm thiên hãy lấy cái gì mà ngài muốn. Tôi không dám trái ý ngài.’
Sau đó, Đế thích liền hiện lại thân mình và hứa với Thi tỳ vương (Śibi)
rằng ông sẽ đạt được sự giác ngộ viên mãn.
Tình thương không vụ lợi: Chuyện 36
Đây là truyện về Maitrakanyaka tiêu biểu
qua bản tiếng Sanskrit từ truyện Bản sanh trong tạng Pāli là
Mittavindaka. Nhưng ở đây chuyện xảy ra hoàn toàn khác với chuyện trong
tạng Pāli vì anh hùng là Bồ-tát. Ở đây ngài cũng có tội lỗi vì xúc phạm
mẹ mình và phải chịu hình phạt bị lăn trong bánh xe lửa. Nhưng khi ông
phải chịu nỗi sợ hãi khi bị tra tấn, ông ta được thông báo rằng phải
chịu khổ trong 66.000 năm cho đến khi nào có tội nhân cùng một hình phạt
ấy thế chỗ. Ông cảm thấy thương xót cho chúng sinh và phát nguyện chịu
bánh xe nghiền nát đầu để đời đời không còn chúng sinh nào phải chịu đau
đớn cực độ như vậy nữa. Thế nên do ý nguyện từ bi nầy, mà bánh xe biến
mất khỏi đầu ông.
Lòng thành kính của Hoàng hậu: Chuyện
54
Với lời thỉnh cầu của Haòng hậu, vua
Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) cho xây một cái tháp trong nội cung để thờ
những móng tay và tóc do Đức Phật tặng cho ông. Ngôi tháp được các cung
nữ dâng cùng các thứ hương đèn, hoa quả, v.v... Nhưng khi vua A-xà-thế
ám sát vua cha và lên ngôi vua, ông hạ lệnh cấm các cung nữ trong nội
cung không được thờ phụng ngôi tháp, nếu bất tuân sẽ chịu tội chết. Tuy
nhiên, Śrimati, một cung nữ trong nội viện, không tuân hành lệnh cấm. Cô
vẫn dùng hương và tràng hoa đến cúng dường quanh tháp, làm A-xà-thế tức
điên lên ra lệnh tử hình. Cô chết với tâm tưởng Đức Phật trong mình và
tức khắc được chuyển sanh ở cõi trời.
Phần thưởng cho việc thờ Phật: Chuyện
100
Trong khi các anh hùng của các chuyện
Avadāna đều là những người cùng thời với Đức Phật, vị anh hùng của câu
chuyện nầy là người sống vào thời của vua A-dục. Mối liên quan với thời
Đức Phật được lập thành bởi sự thêm vào sự miêu tả về sự nhập diệt của
Đức Phật. Đoạn nầy được trích từ Kinh niết-bàn (Parinibbanasutta)
và có thể tương ứng với bản Pāli của kinh Đại bát niết-bàn
(Mahaparinibbanasutta). (Một đọan khác từ kinh Parinibbanasutta
có thể được xem như phần dẫn nhập cho câu chuyện số 40).
Vua A-dục sống vào thời 100 năm sau Đức
Phật nhập diệt. Ông ta có người con tên là Câu-na-la (Kunala) rất thông
minh tuấn tú đến mỗi vua nghĩ rằng chẳng có ai trên thế gian bằng con
mình. Tuy vậy, một hôm ông nghe tin từ những người lái buôn từ Gandhara
rằng còn có nhiều người thông minh tuấn tú hơn cả hoàng tử trong nước
mình. Theo các vị lái buôn, có chàng trai tên là Sundara không những
thông minh tuấn tú không chê vào đâu được, mà bất cứ nơi đâu anh ta đến,
thì nơi đó đều hiện ra một hồ sen và một khu vườn. Vua A-dục phái sứ giả
đến và mời Sundara về cung để thỏa mãn cho vua sự hiếu kỳ nầy. Vua hỏi
nhờ nghiệp gì mà anh ta có được quả bảo thù thắng như vậy. Trưởng lão
Ưu-ba-cấp-đa (Upagupta) giải thích rằng: vào thời Đức Phật vừa mới nhập
niết-bàn, thì chàng Sundara hiện nay chỉ là một người nông dân nghèo,
sắm sửa nhà tắm và nơi tĩnh dưỡng, cúng dường thực phẩm cho ngài Đại
Ca-diếp cùng tăng chúng gồm 500 người, là những vị đã dự lễ trà-tì của
Đức Phật, những người rất đau buồn khi sự nhập diệt của Đức Phật, và đã
kiệt sức vì cuộc hành trình quá dài. Bây giờ Sundara hưởng quả báo từ
việc làm tốt đẹp của anh ta.
Avadānaśataka và các truyện có cùng
nguồn gốc
Một số truyện trong Avadānaśataka của
chúng ta hoá ra là hợp tuyển khác của Avadāna (Thí dụ) và một vài
Avadānaśataka cũng là Apadana (Thí dụ) trong tạng Pāli. Như vậy
truyện ký về Hộ quốc (Rāṣṭra-pāla), số 90 trong bộ sưu tập của chúng ta
tương đương phần lớn với Kinh Ratthapalasutta tiếng Pāli trong
Trung bộ kinh (Majhimani-kāya) và phần lớn của Ratthapala
Apadana. Nhưng sự tương đương chấm dứt khi thiếu đi nhan đề phần
tiếng Sanskrit và Pāli, và phần Apadana tiếng Pāli biểu lộ sự
phân kỳ quá lớn (Feer, pp. 240 1, 313 f., 335, 340 f., 354 f., 360 f.,
372 f, 439 f.)
Tương tự Tây Tạng và Trung Hoa
Một tác phẩm xưa cũ có sự giống nhau rất
lớn với Avadanaśataka, và có nhiều chuyện giống với nó là
Karmaśataka (Hundred Karma Stories; Một trăm truyện về Nghiệp). Tác
phẩm nầy, tuy vậy, không may, chỉ được lưu truyền bằng tiếng Tây Tạng.
(Feer pp. XXIX 1, 442 ff; V. V, 382 ff., 404 ff. and JA 1901 V. XVII,
pp. 50 ff., 257 ff3., 410 ff.; Speyer p. XIX f.). Đã được dịch sang
tiếng Sanskrit nhưng không còn được lưu giữ bằng ngôn ngữ gốc cũng chính
là bộ sưu tập Avadāna tiếng Tây Tạng, ngày nay nổi tiếng trên thế giới
như là sách truyện của Dsanglun với nhan đề The Wise Man and the Fool.
Đã được J. Schmidt dịch sang tiếng Đức. Takakusu đề cập đến bản tiếng
Hán của tác phẩm nầy (JRAS 1901, p. 447 ft.).
Divyavādāna
Một bộ sưu tập sớm hơn
Avadanaśataka, nhưng là bộ kết hợp chặc chẽ với bộ ấy một cách quá
mức đó là Divyavādāna (e: Divine Avadāna). Bản gốc tiếng Sanskrit
đã được Cowel và Neil thuộc trường Đại học Cambridge biên tập. Những
trích dẫn đồ sộ trong đó đã được Burnouf phiên dịch trong
Introduction to the History of Indian Buddhism. Nhan đề tác phẩm
không chắc chắn, chỉ được tìm thấy trong phần đầu chương của một số thủ
bản. Rajendralal Mitra mô tả một thủ bản có nhan đề Divyavadanamala
với phần lớn sai lệch rất xa với ấn bản chúng ta đang có. (Nepalese
Buddhist Literature, pp. 304-316). Còn có một thủ bản của Paris được
mô tả trong ấn bản của trường Đại học Cambridge (p. 663 ff.) hài hoà với
chỉ một phần với bộ sưu tập Divyavādāna (e: Divine Avadāna) mà
chúng ta đang có.
Đặc điểm
Bộ truyện sưu tập nầy, có tầm quan trọng
lớn lao đối với ngành xã hội học Ấn Độ, được bắt đầu với lời kinh tán
thán tri ân theo truyền thống Đại thừa. ‘Cung kính đảnh lễ chư Phật
và Bồ-tát’ và dĩ nhiên chứa đựng một vài phần thêm vào về sau với ý
tưởng Đại thừa. Tuy nhiên, như một toàn thể, tác phẩm trực tiếp thuộc về
Tiểu thừa. Như một ví dụ của sự thêm thắt vào mang chất Đại thừa mà
chúng ta có thể đề cập đến là chương XXXIV, được ghi chú trong chính bộ
sưu tập như là Kinh Đại thừa (Mahāyānasūtra) (p. 483). Trong
chương XXX, có sự xuất hiện Lục tự đại minh chân ngôn (vidyā-ṣaḍakṣarī
Oṃ maṇi padme hūṃ), chính là chân ngôn nổi tiếng của người Tây
Tạng, (Poussin Boudhisme p. 381). Kinh tạng tiếng Sanskrit Phật giáo
được đề cập nhiều lần và riêng những bộ kinh được trích dẫn như
Trường A-hàm (Dīgha-āgama), Tự thuyết (Udāna), Trưởng lão
tăng kệ (Thera-gāthā) (Oldenberg, ZDMG 52, 1891, pp. 653, 655
f.;658, 665). Đề cập đến bốn bộ A-hàm (āgama) (p. 333). Nhiều câu
chuyện mở đầu và kết thúc đúng y như trong Avadanaśataka. Và sau
cùng một số câu và mô tả rập khuôn, rất là tiêu biểu, lại xuất hiện
những từ rất giống trong Divyavādāna. Trong mọi khả năng, chúng đều xuất
phát từ cùng một nguồn, đó là Luật tạng (Vinaya-piṭaka) của Nhất thiết
hữu bộ. Như một vấn đề thực tế, hơn một nửa giai thoại đã được vay mượn
từ sau nầy, mà một số đã lấy từ Trang nghiêm Kinh (Sutralaṃkāra)
của Mã Minh mà chúng ta đã thảo luận ở trên. (Huber. BEFEO IY, 1904, 709
ff.;VI, 1906, 1 ff.;–Sylvain Levi T'oung Pao, V, VII, 1907,105 ft, và
Speyer Avadanaśataka II, preface p. XVI f.).
Phân tích thành phần
Divyavadāna được biên soạn từ rất nhiều
nguồn tư liệu. Nó không có yếu tố phân chia, cũng chẳng làm cho trở nên
đồng dạng về ngôn ngữ và văn phong. Phần lớn truyện ký nầy được viết rất
đơn giản bằng tiếng Sanskrit thể văn xuôi, thỉnh thoảng bị chen vào bởi
các dòng kệ. Nhưng trong vài đoạn văn, chúng ta cũng thấy có những đoạn
thơ trau chuốt đúng như thể kavya với những từ ghép khá dài. Do
vậy, người biên tập bộ truyện nầy đơn thuần đã ghép từng truyện lại với
nhau, một dạng khác nhau từ các bản văn khác. Từ đây cũng kèm theo vài
thành phần của tác phẩm được quy vào cho các thời kỳ khác nhau. Nếu bộ
sưu tập chúng ta, đang được khẳng định mà chưa được chứng minh, là đã
được dịch sang tiếng Hán vào thế kỷ thứ III, thì lẽ ra nó đã không được
ấn hành dạng gốc từ lâu xa trước niên đại đó. Cùng lúc trong tâm trí
chúng ta ghi nhận vì có vài Avadāna trong Divyavadāna được dịch
sang tiếng Hán vào thế kỷ thứ III (Cowel Neil, p. 655,), do vậy, không
cần thiết phải theo rằng tác phẩm như là một toàn thể được dịch sang
tiếng Hán (Kern Manual, p. 10 Barth, RHB 889, V. 19, p. 260). Đó Không
chỉ là đề cập đến hậu duệ của A-dục vương, vị vua của triều đại Śunga
cho đến Puśyamitra (178 B.C.), mà có sự lập lại sự kiện dinara,
đưa chúng ta trở về thế kỷ thứ II. Và thời kỳ khoảng sau Mã Minh trôi
qua trước một cuộc kết tập có thể được trích dẫn từ Trang nghiêm
kinh về hợp tuyển của ngài. Do vậy, Divyavadāna, đúng ra
là một biên soạn từ thế kỷ thứ III hơn là thế kỷ thứ II. Tuy nhiên, nó
đáng chú ý vì chí một truyện trong toàn thể truyện ký của Divyavadāna,
đó là truyện Śardulakarna, đã được dịch sang tiếng Hán năm 265 stl. Nội
dung của Avadāna nầy đáng để ý trong nhiều phương diện, đó là:
Śardulakarna: tình yêu của tầng lớp
tiện dân
Thế tôn đang du hoá ở thành Xá-vệ và
A-nan hằng ngày thường vào thành để khất thực. Một hôm, khi từ thành trở
về tinh xá, A-nan thấy khát nước và xin một người phụ nữ dòng dõi
Chiên-đồ-la tên là Prakriti, đang kéo nước từ giếng. ‘Xin cô cho tôi
chút nước để uống.’
Prakriti đáp: ‘Thưa ngài A-nan, Tôi là
con gái dòng chiên-đồ-la.’
A-nan đáp lại: ‘Cô gái. Tôi chỉ xin
nước. Tôi không hỏi về gia đình và dòng dõi của cô. Cho tôi nứớc. Tôi
đang khát.’
(Lưu ý rằng có chuyên tương tự như vậy
đối với Jesus và Samaritan đáng ngạc nhiên, John 4, 7 ff), nhưng toàn bộ
tiến trình câu chuyện tiến xa hơn trong Phúc âm (Gospel) là quá khác
biệt, đến mức chúng ta hiếm khi nghĩ rằng có mối liên hệ nào giữa Kinh
điển Phật giáo và Thánh kinh).
Cô gái trao nước cho A-nan và có tình yêu với vị tăng. Cô ta bảo với mẹ
cô rằng, nếu không cưới được A-nan làm chồng, cô sẽ chết. Người mẹ vốn
là ngoại đạo có tà thuật, chuẩn bị bùa chú rất hiệu nghiệm và thi thố ma
thuật ở A-nan bằng thần chú (mantras). Tiến trình nầy được mô tả theo
cách tương tự như thần chú trong Kauśikasūtra của Atharvaveda.
Sức mê hoặc đã thành công. A-nan đến nhà của chiên-đồ-la nơi niềm vui mà
cô gái Prakriti đang chuẩn bị trên giường. Nhưng trong phút giây nguy
hiểm nhất, A-nan bỗng dưng rơi lệ và cầu khẩn Đức Phật trong cơn tuyệt
vọng. Sau đó Đức Phật liền phái người
đến cứu hộ A-nan bằng thần chú hoá giải cuả ngài.
A-nan rời nhà của cô gái chiên-đồ-la kém may mắn của mình nhờ oai lực
của Đức Phật Cô-đàm (Gautama) mạnh hơn tà thuật của bà. Nhưng cô gái
chiên-đồ-la Prakriti vẫn chưa nguôi ngoai vì thất tình. Nên cô ta vào
thành và theo A-nan ngày này sang ngày khác khi A-nan đi khất thực. Một
hôm A-nan buồn phiền, xin Đức Phật cứu giúp. Sau đó Đức Phật gọi
Prakriti đến và làm ra vẻ đồng ý với ước muốn của cô rằng sẽ đồng ý cho
A-nan làm chồng cô. Sau đó, Đức Phật dẫn dắt cô đến một tâm trạng là cô
phát nguyện xuất gia trở thành tỷ-khưu ni. Không những cô cạo tóc và mặc
y phục của người xuất gia, mà cô còn tu tập thâm sâu Tứ diệu đế và hoàn
toàn chứng nhập đạo giải thoát của Đức Phật.
Tuy nhiên, khi tầng lớp Bà-la-môn,
chiến sĩ, và thị dân thành Xá vệ nghe tin Đức Phật đã độ một cô gái
chiên-đồ-la thành tỷ-khưu ni, họ rất bất bình, họ kéo nhau đến vua
Ba-tư-nặc và sau đó, liền cùng nhau kéo đến chỗ Đức Phật để phản đối
ngài. Vô số người Bà-la-môn, chiến sĩ, và thị dân thành Xá vệ đã cùng
nhau tập hợp ở đó. Lúc ấy Đức Phật kể chuyện Triśanku, thủ lĩnh của dòng
dõi chiên-đồ-la, mong muốn cưới vợ cho con trai có học thức cuả mình là
con gái của Bà-la-môn danh giá Puṣkarasari. Người Bà-la-môn phản đối
việc cầu hôn ấy với sự khinh bỉ, và bây giờ theo những lời đối thoại thú
vị nhất qua đó Triśanku đưa ra để chỉ trích sâu sắc hệ thống giai cấp và
quy tắc luân lý của Bà-la-môn. Ông ta chứng minh rằng giữa các thành
phần của các giai cấp khác nhau vẫn không có sự tồn tại sự khác biệt tự
nhiên như giữa các giống loài của thú vật và thảo mộc. Lại nữa, không có
giai cấp trong mỗi cá nhân được thọ sanh tuỳ theo hành vi của chính
mình. Sau cùng, Puṣkarasari tin vào sự uyên bác của Triśanku và đồng ý
việc cưới hỏi. Và Đức Phật kết luận, con gái của người Bà-la-môn trong
đời trước chẳng gì khác hơn là bà cô của cô gái Prakriti thuộc dòng dõi
chiên-đồ-la. Đức Phật thời đó chính là Triśanku, và Śardulakarna chính
là A-nan.
Câu chuyện rất hay nầy của đạo Phật được biết đến qua Richard Wagner nhờ
vào bản dịch tiếng Pháp của of Burnouf (Introduction p, 205 ff.) và nhờ
vào đó, ông ta đã lập ‘Kẻ chiến thắng–Victors’ của mình.
A-dục vương truyện
(Aśokavādāna )
Nó xưa cũ vì đã được dịch sang tiếng Hán
vào thế kỷ thứ III, và cũng là chuỗi xích của chuyện có tên là
Aśokavadāna xen kẽ với Divyavadāna (XXVI-XXIX). Nhân vật
trung tâm của câu chuyện là vua A-dục. Về mặt lịch sử, chuyện nầy ít
chứa đựng điều gì về thời đó. Nhưng ngoại lệ quan trọng là, trước hết,
về sự ngược đãi Kỳ-na giáo (Jainism) (p. 427); thứ hai là, sự ngược đãi
chư tăng dưới triều vua Puṣyamitra (p. 433 f.). Rhys Davids
đã nghiên cứu những mặc ý nầy (JPTS 1896, p. 88 f.). Câu chuyện trở nên
giá trị hơn từ quan điểm văn học. Trước hết, ở đây chúng ta có câu
chuyện gây xúc động sâu sắc về Upagupta và Mara. Đó là ý tưởng rõ nét
khác thường để chuyển hoá Ma vương, Người ác, thành Tăng sĩ đạo Phật.
Vẫn đậm nét khi thánh tăng Ưu-ba-cấp-đa (Upagupta), đã quán tưởng Đức
Phật từ lâu, ngài đã nhập niết-bàn hằng thế kỷ nay, đã van xin Ma vương
đã cải đạo hiện hình thành Đức Phật với y vàng ra trước mặt ngài, và sau
đó, như một kịch sĩ đầy kinh nghiệm, thủ vai hoàn toàn giống như Đức
Phật khiến mọi người đều lắng lòng đảnh lễ ngài. Cảm thức đột ngột ấy là
toàn thể nội dung câu chuyện khiến mọi người có thể tin rằng ở đây, kịch
tính đạo Phật được tóm tắt lại. Về ngôn ngữ, văn phong và vận luật của
tác phẩm thuộc về nghệ thuật thi ca cung đình. Do vậy, chúng ta hoàn
toàn không ngạc nhiên rằng, như đã được Huber chứng minh, người người
sưu tập Divyavadāna đã trích toàn bộ từng chữ nội dung tráng lệ
nầy Trang nghiêm Kinh của Mã Minh.
Divyavadāna pp, 356-364, do Wintlisch dịch, nhan đề Mara and
Buddha: p, 161 ff, Huber Ashvagosha: Trang nghiêm Kinh
(Sutralankara) được dịch sang tiếng Pháp p, 2G3 if, and BEFEO 4, 1904 p,
709 ff.
Bản tiếng Pāli của truyện nầy hoàn toàn thiếu tính nghệ thuật và kịch
tính được phát hiện từ Burmese book of Lokapannattiby Durotselle (BEFEO,
4 1904, p. 414 ff.) Đáng lưu ý rằng tu viện nơi lưu trú của Ưu-ba-cấp-đa
(Upagupta) (sau nầy thành thầy của A-dục vương), được kiến tạo do anh em
Nata (kịch sĩ) và Bhata (chiến sĩ), và thuộc về Natabhatika. Không phù
hợp khi Levi gọi Aśokavādāna là một dạng của Đại thừa (Mahatmya)
của Tu viện Natabhatika ở Mathura.
Câu-na-la (Kunala)
Hoàng hậu và con chồng
Nguồn gốc của một trong những câu chuyện
xúc động nhất trong chuỗi truyện vua A-dục trong Divyavadāna vẫn
còn chưa biết được. Đó chính là tình tiét cảm động về thái tử Câu-na-la
(Kunala). Thái tử là con vợ trước của Vua A-dục, và do mưu mô của người
mẹ kế mà thái tử Câu-na-la bị móc đôi mắt đẹp. Lúc ấy, thái tử vẫn không
thấy căm giận thù hằn mẹ kế, người đã gây ra đau khổ quá lớn cho mình.
Bản Pāli đối chiếu
Divyavadāna
có nhiều truyện có cùng đặc điểm như
trong tạng Pāli. Chương thứ 7 là trích từ Đại bát niết-bàn kinh
(Mahāparinirvāṇasutra). Về bản kinh nổi tiếng từ tạng Pāli, hay là
cuộc đối thoại tương ứng với lịch sử của ngài Phú-lâu-na, lên đường như
một người truyền bá Phật pháp đến vùng Śronaparantakas dân tình hoang dã
và thô lỗ, đã quyết định đem tâm bình đẳng và hoà nhã để đối phó với sự
chửi rủa đánh đập, hăm doạ giết chết của dân ở đó. (Divyavadāna,
p. 36ff).
Samyuttanikāya IV p, 60; Majjhimanikāya III, 267; JPTS 1887, p, 23 Pāli
jātaka No, 4, kjhớp với mô tả trong Divyavadāna, p, 498 ff, câu chuyện
con của một thương gia trẻ, bán một con thỏ chết và sau đó, dần dần có
được rất nhiều của cải, trở nên giàu có.
Sự hy sinh của Rūpāvatī
Rūpāvatīavadāna, hai phần ba trong sưu
tập nầy gợi cho chúng ta đi xa hơn với truyện Rūpāvatī trong Bản sanh
man (Jātakamala).
(còn tiếp)
|